PHẬT
NÓI KINH THẤT CÂU CHI PHẬT CHUẨN ĐỀ ĐẠI MINH ĐÀ LA NI
(Lược bớt Chú Văn)
Đời
Đường_ Thiên Trúc Tam Tạng KIM
CƯƠNG
TRÍ dịch
Y theo bản Phạn của Kinh có 10 vạn Kệ Tụng. Nay Ta lược
nói niệm tụng, Quán
Hạnh, nói Pháp tưởng chữ của Đà La Ni an bố ở thân (sau đó trong Quán Hạnh, an bày
chữ
tức dùng Pháp này)
_ Án ( OṂ _㛸)
tưởng an trên đầu
Màu sắc trắng như trăng
Tỏa
nơi vô lượng quang Trừ diệt tất cả
chướng Liền đồng Phật Bồ
Tát Xoa trên đỉnh người ấy
_ Chữ Chiết (
CA_ ᘔ) an hai mắt
Màu sắc như Nhật Nguyệt
Chiếu soi các ngu ám
Hay phát Thâm Tuệ Minh
(ánh sáng Tuệ thâm sâu)
_ Chữ Lệ ( LE_ ᜢ) an trên cổ
Màu như Lưu Ly cam Hay
hiển các sắc tướng Dần đủ
Trí Như Lai
_ Chữ Chủ (CU_ 㮲)
tưởng an tim
Màu sắc như trắng sáng Giống như Tâm thanh tĩnh Mau
đạt
đường Bồ Đề
_ Chữ Lệ ( LE_ᜢ) an hai vai
_ Chữ Chuẩn
(CUṄ_ 㮲㖲) tưởng trong
rốn
Màu trắng vàng màu nhiệm Mau khiến lên
Đạo Trường Được
Bất Thoái Bồ Tát
_ Chữ Đề
(DHE_ᚶ) an hai đùi
Màu sắc như vàng lợt Mau chứng Đạo Bồ
Đề Được ngồi Tòa Kim Cương
_ Toa-Phộc
(SVĀ _ᵙ) hai bắp chân
Dạng ấy làm màu đỏ
Thường hay tưởng
chữ ấy Mau được chuyển Pháp
Luân
_ Chữ Ha
( HĀ_ ) hai bàn chân
Màu sắc giống như trăng Hành
Giả tác tưởng đó Mau chóng đạt Viên Tịch
Như vậy Bố
Tự (an bày chữ) tưởng niệm xong
Liền
thành Chuẩn Đề Thắng
Pháp Môn Cũng như Bản Tôn Chân Thật Tướng Hay diệt các tội, được cát tường
Giống như tụ Kim Cương bền chắc
Gọi là Chuẩn Đề Thắng Thượng
Pháp
Nếu
thường tu hành y như thế
Nên
biết người ấy mau Tất
Địa (Siddhi: Thành Tựu)
(An bày chữ trên thân xong)
Lại dùng Tâm của mình
tưởng trong miệng của Thất Câu Chi Phật Mẫu
tuôn ra văn tự của Thất Câu Chi Đà La Ni, mỗi một chữ phóng tỏa ánh sáng ngũ sắc nhập vào trong miệng của Hành Giả rồi an trong vành trăng
ngay
trái tim của mình, xoay chuyển theo bên
phải
đặt bày.
TÂM NGUYỆT PHẠN
TỰ QUÁN MÔN
Đây tức là âm trực tiếp của chữ Phạn trong hình vẽ bên trên, quán chữ của Chân
Ngôn chỉ dùng Phạn Thư, có thần lực lớn, chẳng phải là
văn tự của phương này
Pháp
an bày chữ của Đà La Ni, xong
Căn cứ vào Nghi Quỹ Niệm Tụng của Kinh Chuẩn Đề Đại Minh thì Chân Ngôn
Thủ An trước sau có hơn 30 loại. Nay chẳng thể ghi đủ, chỉ chọn thuần một
Quán Hạnh dùng làm Tam Ma Địa Niệm
Tụng
NGHĨA CỦA CHỮ
Chữ Án (㛸) có nghĩa là Lưu Chú chẳng sinh diệt. Lại ở tất cả Pháp làm nghĩa
Tối Thắng
Chư Chiết
(ᘔ) có nghĩa là
tất
cả Pháp không có lưu chuyển (Vô
Hành) Chư Lệ ( ᜢ)
có nghĩa là tất cả Pháp không có tướng (Vô Tướng)
Chư Chủ (㮲) có nghĩa là tất cả Pháp không có khởi trụ (vô khởi trụ)
Chư
Lệ (ᜢ) có nghĩa là tất cả Pháp
không có bợn nhơ (vô
cấu)
Chư Chuẩn
(㮲㖲) có nghĩa là tất cả Pháp không có Đẳng
Giác (vô đẳng giác) Chư Đề
(ᚶ) có nghĩa là tất cả Pháp
không có lấy, không có bỏ (Vô thủ xả) Chư Sa-bà
(ᵙ) có nghĩa là
tất
cả Pháp Bình Đẳng không có Ngôn Thuyết
Chư Ha () có nghĩa là tất cả Pháp
Vô Nhân
Tịch
Tĩnh Vô Trụ Niết Bàn
Lại
quán nghĩa của chữ này . không có cắt đứt không có dứt,
vòng quanh rồi lại ban đầu. Do nghĩa tối thắng
của
lưu chú chẳng
sinh diệt cho nên
Vô Hành. Do nghĩa Vô Hành cho nên Vô Tướng. Do nghĩa Vô Tướng cho nên là Vô Khởi Trụ. Do nghĩa vô khởi trụ cho nên là Vô
Đẳng Giác. Do nghĩa
vô đẳng giác cho nên là
vô thủ xả.
Do nghĩa vô thủ xả cho nên là Bình
đẳng vô ngôn thuyết. Do nghĩa bình đẳng vô ngôn
thuyết cho nên vô nhân tịch tịnh vô trụ niết bàn. Do nghĩa Tịch Tịnh Vô Trụ Niết
Bàn cho nên bất sinh diệt tối thắng
Nghĩa màu nhiệm như vậy, tuy lập Văn Tự nhưng cũng không có tướng
văn tự để được.Xét nghiệm Chân Ngôn Mật Giáo chẳng thông giải thoát mà đây lại nói các điều này.
Chỉ lấy chân thật quán nghĩa của chữ cùng tâm tương ứng điều ấy, chẳng phải là ý thức phân
biệt vậy
Chuẩn Đề Chân Ngôn Trì Tụng liền xem (khen
rằng)
Nhóm
công đức Chuẩn Đề Tâm vắng lặng
thường tụng Tất
cả các nạn lớn
Không
thể phạm đến
người Trên Trời với Nhân Gian
Thọ phước ngang bằng Phật
Gặp ngọc Như Ý này
Được sự không gì hơn .
Nam mô bảy Câu Chi
Phật
Mẫu Đại Chuẩn Đề Bồ
Tát (xưng ba lần)
_Án, lãm
(Tịnh Pháp Giới Chân
Ngôn này, tụng 21 biến hoặc 108
biến)
㫘
OṂ RAṂ
_Án, xỉ-lâm
(Hộ Thân Chân Ngôn này, tụng 21 biến hoặc 108 biến))
㫘 
OṂ ŚRHYIṂ
_Án , ma nê bát nột-minh,
hồng
(Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn này, cần yếu tụng đủ
108 biến)
㫘 ㈦ᚂᛈ㯡 㜪
OṂ_ MAṆI PADME HŪṂ
_Nam mô táp
đa nam, tam miểu tam
bồ đà,
câu chi nam
Đát nễ-dã tha: Án, chiết lệ, chủ
lệ, chuẩn đề, sa-bà ha. Bộ-lâm
(Chuẩn Đề Chân Ngôn này cùng với Đại Luân Nhất Tự Chú đồng tụng, cần yếu đủ 108 biến, hoặc 500 biến, hoặc 1000 biến. Trì xong, chí tâm hồi hướng rằng)
㗍ᜀ
ᝌ〝㪤 ᝌᢐᜬ ᗠᙒ㪤 ᚌ㜀ᚙ 㛸 ᘔᜢ 㮲ᜢ
㮲ᰲ ᵙ ゔ
NAMO SAPTĀNĀṂ SAMYAKSAṂBUDDHA KOṬINĀṂ
TADYATHĀ: OṂ CALE
CULE CUṄDHE SVĀHĀ
_ BHRŪṂ
_Nay con trì tụng Đại
Chuẩn Đề
Liền Phát Bồ
Đề, nguyện rộng lớn
Nguyện Định Tuệ con
mau tròn sáng (viên minh)
Nguyện Công Đức con đều
thành tựu
Nguyện Thắng Phước
con trang nghiêm khắp
Nguyện cùng
chúng
sinh thành Phật Đạo
_Xưa con tạo bao nhiêu nghiệp ác
Đều
do vô thủy Tham Sân Si
Từ Thân Khẩu Ý phát sinh ra Nay, tất
cả con xin Sám Hối
_Nguyện con
lúc
lâm chung sắp chết
Trừ hết tất
cả các Chướng Ngại
Mặt nhìn
thấy
Phật A Di Đà
Liền được sinh
về
cõi An Lạc
(Nếu muốn thành tựu Pháp của
đời với các việc lành thì tùy ý xưng nói )
Nghi Quỹ Trì Tụng (y theo Hiển Mật Tâm Yếu, từ Chú của nhóm Tịnh Pháp
Giới, Hộ
Thân… ban đầu đều
là thứ tự trì tụng Chuẩn Đề)
TỊNH
PHÁP GIỚI QUÁN MÔN
Chín chữ Thánh Phạn lúc trước
an trong vành trăng ở trái tim. Liền tác Tam Ma Địa Du Già Quán Hạnh chỉ sợ người
sơ
cơ khó làm được.Nay chỉ dùng chữ Lãm của Tịnh Pháp Giới mà tác quán, một lòng trì tụng, tự nhiên được vào Tịnh Pháp Giới Tam Muội, một
nhiều không ngại vậy.
Người
hành Chân Ngôn y theo Pháp trì tụng, trước tiên nên Kim Cương Chính Tọa (đem ống chân phải đè trên ống chân trái, hoặc tùy ý ngồi cũng được). Tiếp kết Đại Tam Muội Ấn: (Hai tay ngửa lòng bàn tay giương duỗi, tay phải đè tay trái, hai ngón
cái cùng dính móng ngón, nới ra ngay dưới
vành rốn, lắng định thân tâm, sau đó
đưa
lên trên đỉnh đầu bung Ấn. Ấn này hay diệt tất cả vọng niệm cuồng loạn, suy tư tạp nhiễm)
Lắng định thân tâm rồi mới nhập vào Tịnh Pháp Giới Tam Muội.
Ấy là tưởng trên đỉnh đầu của thân mình có chữ Lãm ( _RAṂ) của Phạn Thư.
Khắp chữ này có
ánh sáng giống như viên
ngọc sáng (minh châu), như trăng đầy.
Tưởng
chữ này xong, lại dùng tay trái kết Kim Cương Quyền Ấn (đem ngón cái
đặt
ở lóng thứ nhất dưới gốc ngón vô danh, bốn ngón còn lại nắm ngón cái tác quyền.
Ấn
này hay trừ Chướng Nhiễm
trong ngoài, thành tựu tất cả Công Đức). Tay phải cầm tràng hạt, miệng tụng Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn 21 biến.
Tịnh Pháp Giới
Chân Ngôn (trong các Chân Ngôn chỉ tụng Chú chính, chẳng
tụng văn còn lại)
Án, lãm
㫘
OṂ RAṂ
(㫘 Đây là chữ Án Lãm của Phạn Thư)
Chữ Lãm (_
RAṂ) của Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn này. Hoặc tưởng
hoặc tụng hay khiến cho ba Nghiệp thanh tịnh, tất cả tội chướng
thảy
được tiêu trừ hết, lại
hay thành biện tất
cả Thắng Sự, tùy
nơi cư ngụ thảy được thanh tịnh, quần áo chẳng sạch liền thành
áo sạch, thân chẳng tắm gội
sẽ
thành tắm gội.
Nếu
dùng nước rửa sạch thì chẳng gọi là Chân Tịnh. Nếu dùng Chữ Lãm (_
RAṂ) của Pháp Giới Tâm
này để tịnh tức gọi là
Tất Cánh
Thanh Tịnh Bình như một hạt Linh Đan
điểm
sắt thành vàng. Chân Ngôn một chữ biến nhiễm thành tịnh
Kệ
rằng:
Chữ LA
sắc trắng
tinh
Dùng chấm Không nghiêm sức [bên trên chữ La
(ᜐ) của Phạn Thư an thêm điểm
không liền thành chữ Lãm () vậy]
Như Minh
Châu trên tóc
Đặt nó
ở trên
đỉnh
Chân
Ngôn đồng Pháp Giới
Trừ vô lượng các tội
Tất cả nơi xúc uế
Thường
trì Tự Môn này
.
[Nếu thật sự chẳng đủ duyên bên ngoài (ngoại duyên), không có nước tấm rửa,
thiếu áo mới
sạch thì chỉ dùng chữ Lãm (_ RAṂ) này để tịnh. Nếu
đủ
Ngoại Duyên
thời
trước tiên dùng nước xong, mặc áo mới sạch rồi dùng chữ để tịnh, tức trong ngoài đều thanh tịnh vậy].
Tiếp tụng
Hộ Thân Chân Ngôn 21 biến
Hộ Thân Chân Ngôn
Án , xỉ-lâm
㫘 
OṂ
ŚRHYIṂ
(㫘
Đây là chữ Án Xỉ-lâm của Phạn Thư)
Chú này hay diệt năm Nghịch, mười
ác, tất cả tội nghiệp. Hay trừ tất cả mọi thứ
bệnh
khổ, tai chướng, mộng ác, Tà Mỵ, Quỷ Thần, các việc chẳng lành mà hay thành biện tất cả Thắng Sự khiến cho
tất
cả ước nguyện đều được viên
mãn.
Chú này là Tâm của chư Phật. Nếu người chuyên tụng một biến sẽ hay thủ hộ
thân của mình, tất
cả Quỷ Thần, Thiên Ma chẳng dám đến gần. Tụng hai biến ,
hay thủ
hộ cho Đồng Bạn. Tụng ba biến, hay thủ hộ cho người trong một nhà. Tụng bốn biến
hay
thủ hộ cho người trong một cái thành cho đến tụng bảy biến, hay thủ hộ cho người
ở
bốn thiên hạ.
(Hai Chú
bên trên đều trì 108 biến cũng được)
Tiếp tụng Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn
108 biến
Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn Án, ma nê bát nột-minh, hồng 㫘 ㈦ᚂᛈ㯡 㜪
OṂ
MAṆI PADME HŪṂ
(㫘 ㈦ᚂᛈ㯡 㜪Đây là sáu chữ của Phạn Thư)
Nếu tụng Chú này, tùy theo nơi cư ngụ, có vô lượng chư Phật, Bồ Tát, tám Bộ Trời Rồng tập hội. Lại đủ vô lượng Tam Muội Pháp Môn, giòng tộc bảy đời của người trì tụng đều
được giải thoát, các loài trùng trong bụng sẽ được địa vị của
Bồ Tát. Người đó, ngày ngày được đủ sáu Ba La Mật, viên mãn Công Đức, được vô lượng biện tài, gom tụ thanh tịnh. Hơi phát ra trong miệng chạm vào thân người
khác thì người
nương
nhờ sự tiếp chạm
ấy, lìa các Sân Độc, sẽ được địa vị của Bồ Tát. Giả sử nếu
người của bốn Thiên Hạ
đều được địa vị của Bồ Tát
Thất Địa thời hết thảy Công Đức của các Bồ
Tát ấy và nhóm Công Đức
tụng một biến Lục
Tự
Chú không có khác
Chú này là Bản Tâm vi diệu của Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu người viết
chép Lục Tự Đại Minh này ắt đồng với nhóm Công Đức đạt được khi viết chép tám vạn bốn
ngàn Pháp Tạng không có khác. Nếu dùng vàng, báu làm tượng Như Lai nhiều như bụi
nhỏ
cũng chẳng như Công Đức viết chép một chữ trong sáu chữ này.
Nếu người được Lục Tự Đại Minh này thì người đó chẳng thể nhiễm dính tham
sân si. Nếu đeo giữ Chú này tại thân cũng chẳng bị nhiễm dính bệnh Tham Sân Si. Tất cả Hữu Tình được tiếp chạm với tay, thân của người đeo giữ Chú này; hoặc được
người đó nhìn thấy thời mau được địa vị của Bồ Tát, vĩnh viễn không thọ nhận nỗi khổ
của nhóm Sinh Lão Bệnh Tử.
Nói Lục Tự Đại Minh này xong thì có 77 câu chi Phật một thời hiện trước mặt, đồng thanh nói Chú Chuẩn Đề. Tức biết Lục Tự Đại Minh này cùng với Chuẩn Đề
Chân Ngôn là thứ tự cùng tu vậy.
Sau đó kết Chuẩn Đề Ấn để ngang trái tim,
dùng Chuẩn Đề Chân Ngôn và
Nhất Tự Đại Luân Chú đồng tụng 108 biến rồng
bung tán Thủ Ấn ấy ở trên
đỉnh đầu
(Hoặc nếu chẳng thích Đại Luân Chú thời chỉ trì Chuẩn Đề Chân Ngôn cũng được.Chuẩn Đề Ấn Pháp Hai tay, ngón vô danh và ngón út cùng cài chéo nhau
ở bên trong, dựng thẳng hai ngón giữa cùng trụ nhau, co hai ngón trỏ phụ lóng thứ nhất của
ngón giữa, hai ngón cái vịn
lóng giữa của ngón vô danh phải. Nếu có Triệu Thỉnh thời đưa
hai ngón cái qua lại.
Lúc chính kết Ấn tụng Chú mà muốn ghi số thì ghi trên ngón tay ở ngay thân
phần của mình; hoặc ghi trên cánh tay của Chuẩn Đề Bồ Tát, hoặc quán ghi ở
trên trái tim cũng được. Hoặc kết Ấn tụng được 1080 biến là tốt nhất, hoặc 108 biến, chỉ dùng
tay
trái tác Kim Cương Quyền Ấn, tay phải cầm tràng hạt rồi trì cũng được. Nếu bận rộn
thì
chỉ
dùng Tán Trì)
Thất Câu Chi Phật Mẫu Tâm Đại Chuẩn Đề Đà La Ni (Phụ Nhất Tự Đại
Luân Chú ở phía sau, đồng
tụng)
Nam mô táp đa
nam, tam miểu tam bồ đà, câu chi nam
Đát nễ-dã tha: Án, chiết lệ, chủ
lệ, chuẩn đề, sa-bà
ha_ Bộ-lâm
㗍ᜀᝌ〝㪤ᝌᢐᜬᗠᙒ㪤 ᚌ㜀ᚙ 㛸 ᘔᜢ 㮲ᜢ
㮲ᰲ ᵙ ゔ
NAMO SAPTĀNĀṂ SAMYAKSAṂBUDDHA KOṬINĀṂ
TADYATHĀ: OṂ CALE
CULE CUṄDHE SVĀHĀ_
BHRŪṂ
(㛸 ᘔᜢ 㮲ᜢ 㮲ᰲ ᵙ _ゔĐây
là hai chú Chuẩn Đề của
Phạn Thư)
Đức Phật dạy rằng: “Chú này hay diệt năm Nghịch, mười
Ác, tất cả Tội Chướng, thành
tựu Công Đức của tất cả Pháp Trắng (Bạch Pháp). Người trì Chú này chẳng kể
Tại Gia, Xuất Gia, uống rượu ăn thịt,
có vợ
con, chẳng kén chọ Tịnh Uế, chỉ
chí tâm trì tụng hay khiến cho chúng sinh đoản mệnh tăng thọ vô lượng, bệnh tật Ca Ma La còn
được trừ khỏi huống chi là bệnh khác, nếu chẳng tiêu
diệt ắt không có chuyện đó”
Nếu tụng đủ 49 ngày thời Chuẩn Đề Bồ Tát khiến hai vị Thánh Giả thường
tùy theo người ấy. Hết thảy việc thiện ác mà tâm đã nghĩ đến đều ở bên tai, mỗi mỗi báo đầy đủ.
Nếu người không
có Phước,
không có Tướng, cầu quan chẳng toại ý, bị sự nghèo
khổ áp bức, thường tụng Chú này ắt hay khiến cho đời hiện tại được Phước của Luân
Vương, mong
cầu
quan vị ắt được xứng ý.
(Trong Thiền Tông Truyền Đăng Lục dẫn lời của người xưa là: Câu Chi chỉ
niệm ba Hạnh
Chú, tức được gọi
là vượt hơn tất cả con
người vậy)
Nếu cầu Trí Tuệ được Đại Trí Tuệ. Cầu nam nữ liền được nam nữ. Phàm có
mong cầu thì không có gì không xứng ý giống như viên ngọc Như Ý, tất cả tùy theo
tâm
Lại
tụng Chú này hay khiến cho quốc vương, đại thần với các bốn chúng
sinh khởi tâm yêu
kính, nhìn thấy liền vui
vẻ.
Người tụng Chú này chẳng bị nước cuốn chìm, chẳng bị
lửa
thiêu đốt. Thuốc độc, oan
gia, quân trận, giặc mạnh với Rồng thú
ác các hàng Quỷ Mỵ đều chẳng thể gây hại.
Nếu muốn thỉnh hàng Phạm Vương, Đế Thích, bốn vị Thiên Vương, Diêm La
Thiên Tử chỉ tụng Chú này, tùy thỉnh ắt
đến không dám chần chừ, hết
thảy việc sai
khiến tùy theo tâm đều được
Chú này ở Nam Thiệm Bộ Châu có thế lực lớn, dời núi Tu Di, làm cạn khô nước biển lớn,
chú vào cây khô héo khiến
sinh hoa quả, huống chi lại hay
y Pháp trì tụng,
chẳng chuyển thân máu
thịt
này được Đại Thần Túc
đi đến
trời
Đâu Suất.
Nếu cầu trường sinh với các thuốc Tiên. Chỉ y theo Pháp tụng Chú , tức được
thấy
Quán Thế Am Bồ Tát hoặc Kim Cương
Thủ Bồ Tát trao cho thuốc màu nhiệm
của Thần Tiên, tùy lấy ăn vào liền thành Tiên Đạo, được thọ mệnh lâu dài ngang bằng
với
mặt trời, mặt trăng, chứng địa vị của
Bồ Tát.
Nếu y theo Pháp tụng đủ 100 vạn biến, liền được đi đến mười phương Tịnh Thổ, phụng
sự
chư Phật, nghe khắp Pháp
màu nhiệm, được
chứng Bồ Đề.
Đại Luân Nhất Tự
Chú tức là Bộ-lâm (ゔ_ BHRŪṂ) cũng có tên là
Mạt Pháp Trung Nhất Tự Tâm Chú. Chú này ở thời Mạt Pháp, lúc Pháp muốn diệt thời có thế
lực
lớn hay ở Thế Gian làm lợi ích lớn,
hay hộ giữ tất cả Pháp Tạng của Như Lai, hay giáng
phục tất cả Chúng của tám Bộ, hay đập tan tất cả Chú ác của Thế
Gian. Là Đỉnh của tất cả chư Phật. Là Tâm của Văn Thù Bồ Tát
hay làm cho tất cả chúng sinh không
có
sợ hãi, hay cho tất cả chúng sinh sự khoái lạc. Phàm có tu trì thì tùy ý được quả
đồng
với
viên ngọc Như Ý hay
mãn tất cả nguyện.
Nếu
tụng Chú này, ở bốn phương
diện, bên trong năm trăm trạm dịch, các Quỷ
Thần ác tự chạy tan, các
Tinh Diệu ác với các Thiên Ma chẳng dám đến gần.
Nếu trì tụng tất
cả Chân Ngôn khác, sợ chẳng
thành tựu. Liền dùng Chú này cùng với
Chân Ngôn khác đồng tụng tại một chỗ sẽ quyết định thành tựu. Nếu chẳng thành tựu
với
không có hiện nghiệm thì nhóm Thần
của
Chú ấy sẽ bị bể
đầu
thành bảy phần. Nên biết Chú này hay trợ cho
tất cả Chân Ngôn mau được thành tựu.
(Hoặc trì riêng Chú này cũng được)
Phần bên trên là thứ tự trì tụng chỉ đến Chú Chuẩn Đề. Nếu chẳng thể kết Ấn Chuẩn Đề thì dùng tay trái kết Kim Cương Quyền, tay phải cầm tràng hạt rồi tụng. Hoặc chẳng thể theo thứ tự trì tụng Chân Ngôn của nhóm: Phổ Cúng Dường, Tịnh Pháp Giới…lúc trước thời chỉ trì Chuẩn Đề Thần Chú cũng được. Hoặc kẻ độn căn
chẳng thể thọ đủ Pháp Chuẩn Đề này thời chỉ trì từ chữ Án trở
xuống. Từ chữ Án trở
lên là ngôn từ Quy Kính,
nhóm chữ Án là Chú chính vậy.
Mỗi khi Trì Tụng xong, lại dùng tay phải tác
Kim Cương Quyền
Ấn
miệng tụng Chân Ngôn chữ Hồng (HŪṂ) rồi ấn năm nơi.
Trước
tiên ấn trên trán. Tiếp ấn vai trái, vai
phải. Tiếp ấn trên
trái tim, tiếp ấn trên cổ họng. Ấn xong liền
bung tán ở trên đỉnh đầu, hay
trừ
tất cả Ma Chướng, thành
tựu
tất cả Thắng Sự.
Hồi Hướng, Phát Nguyện như trước; tùy ý xưng.
Khóa nối tiếp (Tục Khóa) Tịnh Nghiệp (tham cứu Kinh Chuẩn Đề ghi rằng:
Tụng Chân Ngôn hồi hướng
xong, tùy ý Kinh Hành, chuyển đọc Kinh Điển Đại Thừa như Kinh của nhóm
Hoa Nghiêm, Đại Bát Nhã…
cho nên nay có khóa nối tiếp)
BÁT
NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
(ND: Đời Đường,Tam
Tạng Pháp Sư HUYỀN TRANG
dịch)
Khi Bồ Tát Quán Tự Tại thực hành Bát Nhã
Ba La
Mật Đa thâm sâu thời soi thấy năm Uẩn đều
trống rỗng mà vượt qua
tất cả ách khổ đau
Này
Xá Lợi Tử! Hình chất chẳng khác trống rỗng, trống rỗng chẳng khác hình
chất. Hình chất tức là trống rỗng, trống rỗng tức là hình chất. Cảm giác, tri giác, hoạt
động
tâm ý, nhận thức cũng đều như vậy
Xá
Lợi Tử! Tướng trống rỗng của các Pháp vốn chẳng sinh chẳng diệt, chẳng dơ
bẩn chẳng trong sạch, chẳng tăng thêm
chẳng giảm bớt
Chính vì thế
cho nên trong Trống rỗng không có hình chất, không có:cảm giác, tri giác,
hoạt động tâm ý, nhận thức. Không có: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Không có: hình
sắc, âm thanh, mùi ngửi, vị
nếm, cảm xúc va chạm, pháp cảnh. Không có giới
của mắt cho đến không có giới nhận thức của ý. Không có Vô Minh cũng không có chấm
dứt Vô Minh cho đến không có già chết cũng không có chấm dứt già chết. Không có:
khổ
não, nguyên nhân kết tạo khổ
não, trạng thái xóa bỏ khổ não,
đường lối thoát
Nhờ không có sở đắc cho nên bậc Giác Hữu Tình y theo Bát Nhã Ba La Mật
Đa mà tâm không có trở ngại. Do không có trở ngại nên không có sợ
hãi, xa lìa điên đảo
mộng tưởng,
rốt
ráo đạt đến Niết Bàn. Chư Phật ba đời y theo Bát Nhã Ba La Mật Đa
nên đắc được Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác
Nên
biết Bát Nhã Ba La Mật Đa là Thần Chú to lớn, là bài Chú sáng tỏ to lớn, là
bài
Chú không có gì cao hơn, là bài Chú không có gì sánh bằng cho nên nói Bát Nhã
Ba La Mật Đa Chú
Liền nói Chú là: Yết Đế, Yết Đế,
Ba La Yết Đế, Ba La Tăng Yết Đế, Bồ Đề tát- bà
ha
ᚌ㜀ᚙ ᗰᚒᗰᚒ ᛉᜐᗰᚒ ᛉᜐᗰᚒ 㐅ᚲ 㛿
TADYATHĀ:
GATE GATE
PĀRAGATE PĀRĀSAṂGATE BODHI SVĀHĀ
No comments:
Post a Comment