Friday, February 24, 2017

CÁC LOẠI HÌNH TƯỢNG QUÁN ÂM

CÁC LOẠI HÌNH TƯỢNG QUÁN ÂM
1) Hình tượng Quán Âm của Thế Giới Cực Lạc:
Quán Thế Âm Bồ Tát của Thế Giới Cực Lạc (Sukhavatī-dhātu) có thể nói là tất
cả bản vị của Quán Âm.
Hình tượng của Quán Thế Âm viên mãn đầy đủ, cùng với Đức Phật chẳng có sai
biệt, chỉ có búi tóc trên đỉnh đầu và Vô Kiến Đỉnh Tướng không giống như Đức Phật.
Vì muốn tiếp dẫn chúng sinh vãng sinh về thế giới Cực Lạc ở Phương Tây hình
tượng của Quán Thế Âm Bồ Tát cũng có cầm Đài Sen Kim Cương. Hình tượng như
vậy cũng chẳng hạn chế dùng loại tư thế nào, loại tay ấn nào làm định hình mà là thuận
theo nhân duyên nguyện vọng cần yếu của chúng sinh để thị hiện, cho nên trong Kinh
Điển khác nhau cũng sẽ vẽ ra Tướng trạng khác nhau.
Thông thường hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát này được thờ phụng chung với
Đức Phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, và được tôn xưng là Tây Phương Tam
Thánh
29
2_ Ba Mươi ba loại Thân Ứng Hóa
Căn cứ trong “Kinh Pháp Hoa. Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn” nói,
Bồ Tát có 33 loại thân ứng hóa, những thân ứng hóa này đều ứng với thân nào đó để
hóa độ, Bồ Tát liền hiện thân đó mà giảng pháp cho kẻ đó, cần phải dùng thân Đồng
Nam, Đồng Nữ để hóa độ, liền hiện thân Đồng Nam, Đồng Nữ mà giảng pháp, cần
phải dùng thân Phật để hóa độ thì liền hiện thân Phật mà giảng pháp.
Do đây có thể biết, Quán Thế Âm Bồ Tát cũng chẳng nhất định phải xuất hiện
hình tượng Bồ Tát, Ngài có thể hóa hiện làm Bà La Môn, có thể là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
Ni, cũng có thể là thân Đế Thích, thân Đại Tự Tại Thiên, thân Dạ Xoa, thân A Tu La.
Các loại thân này đều là ứng hiện thuận theo Đại Bi để giáo hóa chúng sinh.
_ Căn cứ trong “Phẩm Phổ Môn” ghi chép, 33 loại thân ứng hóa của Quán Thế
Âm Bồ Tát phân biệt là:
1. Ba Tôn thuộc hàng Thánh:
33 loại thân ứng hóa của Quán Âm như sau:
Ba Tôn thuộc hàng Thánh:
1. Thân Phật:
30
2. Thân Bích Chi Phật:
31
3. Thân Thanh Văn:
32
Sáu Tôn thuộc cõi Trời:
1_ Thân Đại Phạm Thiên :
33
2_ Thân Đế Thích:
34
3_ Thân Tự Tại Thiên:
35
4_ Thân Đại Tự Tại Thiên:
36
5_ Thân Thiên Đại Tướng Quân:
37
6_ Thân Tỳ Sa Môn:
38
Năm Tôn bên ngoài Đạo:
1_ Thân Tiểu Vương:
39
2_ Thân Trưởng Giả:
40
3_ Thân Cư Sĩ:
41
4_ Thân Tể Quan:
42
5_ Thân Bà La Môn:
43
Bốn Tôn bên trong Đạo:
1_ Thân Tỳ Kheo:
44
2_ Thân Tỳ Kheo Ni:
45
3_ Thân Ưu Bà Tắc:
46
4_ Thân Ưu Bà Di:
47
Sáu Tôn thuộc nhóm Người, Phi Nhân, Phụ Nữ, Đồng Nam, Đồng Nữ:
1_ Thân Người:
48
2_ Thân Phi Nhân:
49
3_ Thân Phụ Nữ:
50
4_ Thân Nữ Đồng Mục Thiên Nữ:
51
5_ Thân Đồng Nam:
52
6_ Thân Đồng Nữ:
53
Tám Bộ thuộc hàng Trời Rồng:
1_ Thân Trời:
54
2_ Thân Rồng:
55
3_ Thân Dạ Xoa:
56
4_ Thân Càn Thát Bà:
57
5_ Thân A Tu La:
58
6_ Thân Ca Lâu La:
59
7_ Thân Khẩn Na La Vương:
60
8_ Thân Ma Hầu La Già:
61
Một Tôn thuộc hàng Kim Cang:
1_ Thân Chấp Kim Cang:
62
Nhưng trong “Nhiếp Vô Ngại Kinh” (lại có tên gọi là “Bổ Đà Lạc Hải Hội
Quỹ”) ngoài 33 thân ứng hóa nêu rõ ra, cũng ghi rõ hình tượng của các Tôn, nhưng
trong Tôn Tượng trừ bỏ 4 thân phụ nữ nêu ở trước (19), (20), (21), (22) mà thay thế
dùng thân Người, thân Phi Nhân, thân Phụ Nữ, thân Đồng Mục Thiên Nữ…. Nhưng
trong quyển 6 “Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh” thì bỏ đi 7 thân (9), (19),
(20), (21), (22), (30), (33)…. Ngoài ra thêm vào ở trên thân Tứ Đại Thiên Vương, thân
Tứ Thiên Vương Quốc Thái Tử, thân Nữ Chủ, thân Người, thân Phi Nhân; lại chia thân
Bích Chi Phật làm hai thân Độc Giác và Duyên Giác tổng cộng là 32 thân ứng hóa.
_ Trong Kinh Nhiếp Vô Ngại ghi nhận danh hiệu và hình tượng 33 loại thân ứng
hóa của Quán Âm như sau:

Ba Tôn thuộc hàng Thánh:
1. Thân Phật: Hình Đức Phật màu vàng ròng, duỗi tay trái để trên đầu gối, tay
phải kết ấn Thuyết Pháp.
2. Thân Bích Chi Phật: Toàn thân màu thịt trắng, tướng Tỳ Kheo trung niên, hai
tay chấp lại.
3. Thân Thanh Văn: Thân tướng màu thịt trắng, tướng Tỳ Kheo Xí Niên, cầm
Tam Y Hàm, thân mặc áo Tăng Già Lê.
Sáu Tôn thuộc cõi Trời:
1_ Thân Đại Phạm Thiên : màu thịt trắng, có 4 mặt 3 con mắt 8 cánh tay 2 chân.
Bên trái: Tay thứ nhất cầm cái Chày Tam Cổ, tiếp theo tay cầm Hoa Sen, kế đến tay
cầm cái bình Quân Trì, sau cùng tay cầm cây phất trần trắng. Bên phải: Tay thứ nhất
quyền ấn, tiếp theo tay cầm cây Mâu bén, kế đến tay cầm cái gương Tứ Trí, sau cùng
tay ban Thí Vô Úy.
2_ Thân Đế Thích: màu thịt trắng, tay trái quyền ấn, tay phải cầm cái chày Nhất
Cổ.
3_ Thân Tự Tại Thiên: màu thịt trắng, cầm Hoa Sen hồng.
4_ Thân Đại Tự Tại Thiên: màu hoa sen tím, hai tay cầm cây mâu bén, cỡi con
Trâu đen lớn.
5_ Thân Thiên Đại Tướng Quân: màu thịt đỏ, hai tay chắp lại.
6_ Thân Tỳ Sa Môn: màu vàng sẫm, tướng phẫn nộ giáng ma, tay trái cầm cái
Tháp báu, tay phải cầm cây Kiếm báu.
Năm Tôn bên ngoài Đạo:
1_ Thân Tiểu Vương: màu thịt đỏ, hai tay chắp lại.
2_ Thân Trưởng Giả: màu thịt trắng, cầm viên ngọc báu Như Ý, tướng Đại Phú
Quý Nhân.
3_ Thân Cư Sĩ: màu thịt trắng, cầm viên ngọc báu Ma Ni, tướng Đại Gia Trưởng
Giả.
4_ Thân Tể Quan: màu thịt đỏ, hai tay chấp lại, tướng Quan Nhân.
5_ Thân Bà La Môn: màu thịt đỏ, đầu giống như Tỳ Kheo Tăng, mặc Bạch Tố
Tục Y, hai tay cầm cây Tích Trượng.
Bốn Tôn bên trong Đạo:
1_ Thân Tỳ Kheo: Da có vết nhăn màu thịt đỏ, tướng Đại Đức uy nghi, cầm cái
Bát.
2_ Thân Tỳ Kheo Ni: Toàn thân màu thịt trắng, tướng người nữ lớn tuổi, cầm Hoa
Sen hồng.
63
3_ Thân Ưu Bà Tắc: màu thịt trắng, đầu đội Mão trắng, mặc áo trăm kết, tướng
người phàm tục mặc áo trắng, cầm khí cụ tu hành.
4_ Thân Ưu Bà Di: màu thịt trắng, tướng người nữ tóc dài, cầm Hoa Sen Trí Tuệ.
Sáu Tôn thuộc nhóm Người, Phi Nhân, Phụ Nữ, Đồng Nam, Đồng Nữ:
1_ Thân Người: màu thịt trắng, tướng Quý Nhân, cầm Hoa Sen màu nhiệm.
2_ Thân Phi Nhân: Thân tướng rất xanh, tướng Ác Đơn Đà La, tay trái giương
Cung, tay phải cầm Mũi Tên.
3_ Thân Phụ Nữ: màu thịt trắng, giống như Chư Thiên Thái Nữ, thọ tướng kính
yêu.
4_ Thân Nữ Đồng Mục Thiên Nữ: Thân tướng màu thịt trắng, hai tay cầm Hoa
Sen tím.
5_ Thân Đồng Nam: màu thịt trắng, tướng tiểu đồng còn trẻ, hai tay cầm Hoa
Sen.
6_ Thân Đồng Nữ: màu trắng như Kha Tuyết, tướng người nữ còn trẻ, cầm Hoa
Sen xanh.
Tám Bộ thuộc hàng Trời Rồng:
1_ Thân Trời: Thân Tướng màu Hoa Sen hồng, tay trái cầm cái hộp đựng Hoa
Sen, tay phải cầm Hoa Sen màu nhiệm.
2_ Thân Rồng: Thân Tướng màu rất xanh, trên đỉnh hiện cái đầu Rồng, tướng sân
huệ phẫn nộ, hai tay nắm mây đen.
3_ Thân Dạ Xoa: Thân Tướng màu thịt đỏ, trên đỉnh có Mão lửa rực, hai tay cầm
cây chày tam cổ.
4_ Thân Càn Thát Bà: Thân Tướng màu thịt đỏ, trên đỉnh có Mão tám góc, hai
tay cầm Tiêu Địch (Tiêu: ống Tiêu, Địch: ống sáo), tay phải cầm cây Kiếm báu.
5_ Thân A Tu La: Có 3 mặt màu đen xanh, hình tượng khỏa thân phẫn nộ, có 6
cánh tay 2 chân, 2 tay chấp lại. Bên trái: tay thứ hai cầm Hỏa Pha Chi, kế đến tay cầm
Đao Gậy. Bên phải: tay thứ hai cầm Thủy Pha Chi, kế đến tay cầm Dật Ấn.
6_ Thân Ca Lâu La: Thân tướng màu đen xanh, vùng mặt là chim xí điểu màu
nhiệm, thân người có cánh, tay trái tác quyền để ở eo, tay phải cây móc câu Kim Cang.
7_ Thân Khẩn Na La Vương: Đầu mặt Hoẵng, Hưu, Ngựa, hình tượng người
khỏa thân, cầm khí cụ âm thanh.
8_ Thân Ma Hầu La Già: Đầu Rắn tướng Quý Nhân, hai tay ôm Sênh Địch
(Sênh: cái kèn, Địch: ống sáo), hoặc cầm cây Gậy đánh trống.
Một Tôn thuộc hàng Kim Cang:
1_ Thân Chấp Kim Cang: Thân tướng màu thịt đỏ, tướng phẫn nộ giáng ma, tóc
bó lại thành búi, Mão có lửa rực như vòng hoa, tay trái nắm lại thành quyền để ở eo,
tay phải cái Chày Kim Cang.
64
BA MƯƠI BA THỂ QUÁN ÂM
Gọi 33 Thể Quán Âm là trong bản vị Pháp Giới của Quán Âm Bồ Tát, ứng
duyên mà hóa hiện thân ứng hóa, trên cơ bản toàn bộ đều thị hiện hình Bồ Tát. Có
điều trong những hình tượng này có một số chẳng được ghi nhận trong Kinh Điển,
nhưng vì thuận theo sự tích các loại linh nghiệm ứng hóa, cứu khổ cứu nạn được lưu
truyền ở dân gian đã tạo nên sự tôn sùng và tín ngưỡng của mọi người.
Trong “Phật Tượng Đồ Hối” minh hoạ hình tượng của 33 Thể Quán Âm như
sau:
1_ Dương Liễu Quán Âm: Quán Thế Âm Bồ Tát vì lợi ích cho chúng sinh, đều
thuận theo nguyện vọng của chúng sinh mà thị hiện, cũng giống như cành Dương Liễu
thuận theo gió bay phất phới mà không thể làm trái nghịch được, nhân đây mới được
tên này, có lúc cũng biểu thị có thể vì chúng sinh mà phủi đi các loại bệnh khó trị trên
thân.
Nói chung hình tượng của Tôn này thường thấy là: Ngồi xổm trên mỏm núi đá,
tay phải cầm cành Dương Liễu (có thuyết nói biểu thị cho Tam Muội thuộc tay phải
cầm Dương Liễu của Thiên Thủ Quán Âm), lòng bàn tay trái mở ra để ở trước ngực
hoặc là tay trái cầm cái Tịnh Bình.
Tôn này tương đương với thân Dược Vương Quán Âm
65
2_ Long Đầu Quán Âm: Biểu hiện tư thế đứng thẳng hoặc ngồi trong mây cỡi
đầu con Rồng. Được cho rằng là hóa thân Trời, Rồng, Dạ Xoa trong 33 thân của Quán
Âm để giáo hóa hàng Trời, Rồng. Đại khái dùng con Rồng là vua trong các loài thú,
được ví như uy thần của Quán Âm.
66
3_ Trì Kinh Quán Âm: Ngồi trên tảng đá ghồ ghề, tay phải cầm quyển Kinh,
tay trái để trên đầu gối.
Hoặc cho rằng là thân Thanh Văn trong 33 thân của Quán Âm, tức là Thanh
Văn Quán Âm. Thanh Văn (Śrāvaka) là nghe âm tiếng do Đức Phật dạy bảo mà khai
ngộ xuất gia. Trong “Phẩm Phổ Môn” nói: “Cần phải dùng thân Thanh Văn để hóa
độ liền hiện thân Thanh Văn mà giảng pháp”, cầm quyển Kinh là đặc sắc của Ngài.
67
4_ Viên Quang Quán Âm: Trong ánh sáng lửa rực của viên quang (hào quang
tròn) xuất hiện sắc thân, chấp tay lại ngồi trêm mỏm núi đá,
Trong Phẩm Phổ Môn có một đoạn Kinh văn nói:
Sáng thanh tịnh không nhơ
Mặt Trời tuệ trừ ám
Hay trừ nạn gió lửa
Soi sáng khắp thế gian
Trong quyển 1 “Phật Tượng Đồ Hối” cũng có vẽ hình tượng, trên lưng có ánh
sáng lửa rực, ngồi ngay ngắn trên tảng đá.
68
5_ Du Hý Quán Âm: Tôn này dùng vui chơi tự tại, không trì trệ, không trở ngại
cho nên gọi như vậy. Ngồi cỡi trên mây ngũ sắc, tay trái để ở bên cạnh rốn, tác tướng
vui chơi tự tại trong Pháp Giới không có sự trở ngại)
Có người cho rằng Tôn này biểu thị cho đoạn văn trong Phẩm Phổ Môn là:
Hoặc bị kẻ ác rượt
Rớt xuống núi Kim Cang
Do sức niệm Quán Âm
Chẳng mất một mảy lông
Đây tượng trưng cho chúng sinh bị tai nạn rớt xuống núi được sự cứu giúp của
Bồ Tát.
69
6_ Bạch Y Quán Âm: Mặc áo mỏng màu trắng, ngồi ở đám cỏ mềm mại trên
tảng đá, tay kết Định Ấn, ngồi Kiết Già. Hình tượng này tương đương với thân Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo Ni trong 33 thân của Quán Âm.
70
7_ Ngọa Liên Quán Âm: Ngồi ở trong ao trên tòa Hoa Sen, làm tư thế chấp tay
lại.
Hoặc cho rằng đây là thân Tiểu Vương trong 33 thân của Quán Âm, ví như thân
tôn quý của Tiểu Vương nằm ngồi trên Hoa Sen.
71
8_ Long Kiến Quán Âm: Lại gọi là Phi Bộc Quán Âm, tư thế dựa vào vách núi
gãy, quán thác nước đổ.
Hoặc cho rằng Tôn này tượng trưng cho ý nghĩa của đoạn văn trong Phẩm Phổ
Môn: “Nếu có chúng sinh nào bị xô vào hầm lửa lớn. Như hay xưng niệm tên Quán
Âm Bồ Tát liền ứng theo âm thanh đó mà cứu, khiến cho thành lửa biến thành ao”.
72
9_ Thi Lạc Quán Âm: Ngồi cạnh bờ ao, chăm chú nhìn Hoa Sen, tay phải chống
má tựa trên đầu gối, hoặc có người cho rằng Tôn này tượng trưng cho đoạn văn trong
Phẩm Phổ Môn
Hoặc ở ngọn Tu Di
Bị người xô té xuống
Do sức niệm Quán Âm
Như mặt Trời trên không.
73
10_ Ngư Lam Quán Âm: Chuyên môn trừ bỏ chướng ngại của La Sát, Rồng
độc, Quỷ ác…. Hình tượng ấy cỡi con Cá lớn, hoặc là tay xách cái giỏ có con Cá lớn.
Hoặc cho rằng Tôn này tượng trưng cho đoạn văn trong Phẩm Phổ Môn
Hoặc gặp La Sát dữ
Rồng độc, các loài Quỷ
Do niệm sức Quán Âm
Chúng đều không dám hại
Thân này tương đương với Hóa Thân La Sát trong 33 thân của Bồ Tát Quán Âm
Căn cứ theo lưu truyền tức là con gái của Bàng Uẩn Đại Sĩ. Hệ này bắt nguồn từ
triều đại nhà Đường của Trung Quốc được sự tín ngưỡng của dân gian, hiện nay thịnh
hành ở Nhật Bản.
Hoặc nói Ngư Lam Quán Âm chính là Mã Lang Phụ Quán Âm, lại có tượng gọi
là Ngư Lam Quán Âm. Chính triều đại nhà Đường người ta lầm lẫn dùng Tượng Nữ
Linh Chiếu Trì Lam của Long Uẩn Cư Sĩ , lưu truyền sai lầm mà đến.
74
11_ Đức Vương Quán Âm: Ngồi trên tảng đá, tay trái để ở trên, tay phải cầm lá
xanh hoặc một cành Dương Liễu.
Tôn này tương đương với Hóa Thân Phạm Vương của Bồ Tát Quán Âm
Như trong Phẩm Phổ Môn nói rằng: “Cần phải dùng thân Phạm Vương để hóa
độ thì liền hiện thân Phạm Vương mà giảng pháp”. Đại khái nói Phạm Vương chính là
chủ của sắc giới, Đức ấy thù thắng cho nên gọi là Đức Vương.
75
12_ Thủy Nguyệt Quán Âm: Đứng trên một cánh Sen tựa như chiếc thuyền
dưới ánh trăng, nổi trên biển quán tưởng mặt trăng trong nước yên tĩnh.
Tôn này tương đương với Hóa Thân Bích Chi Phật của Bồ Tát Quán Âm
76
13_ Nhất Diệp Quán Âm: Cỡi một cánh Sen, nhàn nhã trôi nổi trên mặt nước,
lại gọi là Liên Diệp Quán Âm, Nam Minh Quán Âm. Bởi vì Quán Âm Đại Sĩ cỡi
một cánh Sen nổi trên mặt nước cho nên có tên này.
Tương truyền có một Tăng nhân người Nhật tên là Đạo Nguyên trên đường trở
về Nhật Bản gặp phải gió lớn đành phải tránh vào núi Nam Minh, lúc ấy Đạo Nguyên
ở trên thuyền khấn thầm bỗng nhiên thấy Đại Bi Tôn cỡi một cánh Sen nổi trên biển
thời sóng gió liền lặng. Lên bờ xong, Sư tự khắc tượng Quán Âm đã nhìn thấy và an trí
phụng thờ trong chùa Nam Minh Quán Âm. Từ đây Tôn này có hiệu là “Nam Minh
Quán Âm”.
Hoặc cho rằng đây là thân Tể Quan trong 33 thân, hoặc tượng trưng đoạn văn
trong Phẩm Phổ Môn nói rằng: “Nếu có người bị nước lớn cuốn trôi, hễ xưng danh
hiệu Ngài thì sẽ gặp được chỗ cạn”.
Y theo trong Phật Tượng Đồ Hối đã vẽ thì hình Tượng Tôn này ngồi trên cánh
Sen, gối trái co đứng, tay trái để trên đầu gối, tay phải rũ xuống chống đỡ thân ấy,
trông nhìn xa trên mặt nước, tác tướng suy tư sâu xa.
77
14_ Thanh Cảnh Quán Âm (hay Thanh Đầu Quán Âm): ngồi trên sườn dốc
gãy, gối phải dựng đứng, tay phải để trên đầu gối, tay trái vịn vách núi.
Tôn này tương đương với hóa thân Phật Đà của Bồ Tát Quán Âm
78
15_ Uy Đức Quán Âm: Tay phải chạm đất, tay trái cầm hoa sen, tư thế đứng ở
trên mỏm núi quán nhìn nước.
Hoặc cho rằng đây là thân Thiên Đại Tướng Quân trong 33 thân. Vì Thiên Đại
Tướng Quân có đầy đủ cả uy đức, cho nên có tên là Uy Đức Quán Âm. Quán Âm có
đủ cả Uy của chiết phục (bẻ gãy) và Đức của nhiếp lấy sự ái hộ (yêu thương giúp
đỡ).
79
16_ Diên Mệnh Quán Âm: Tựa vào mỏm núi bên cạnh nước, nhàn nhã thưởng
thức cảnh vật trên mặt nước
Hoặc cho rằng Tôn này tượng trưng cho đoạn văn trong Phẩm Phổ Môn là:
Như thuốc độc yếm đối
Muốn hại đến mạng thân
Do sức niệm Quán Âm
Người gây bị hại ngược
Quán Âm này dùng nhóm khí vật hay trừ các độc hại thọ mạng để được sống lâu,
cho nên tên là Diên Mệnh Quán Âm. Hình tượng là trên đỉnh đầu đội mão báu lớn,
tướng tốt Từ Bi nhu hòa, hào quang tròn, trụ khắp vành trăng trong Hoa Sen, thân đeo
anh lạc, vòng hoa màu nhiệm và áo Trời để trang nghiêm, 2 cánh tay là đặc sắc ấy để
tiếp dẫn cứu giúp chúng sinh.
80
17_ Chúng Bảo Quán Âm: Tay phải chạm đất, chân phải duỗi thẳng, tay trái để
ở trên đầu gối, hiện tướng an ổn.
Tôn này tương đương với thân Trưởng Giả trong 33 thân.
Hoặc có người cho rằng Tôn này tượng trưng cho đoạn văn trong Phẩm Phổ
Môn: “Nếu có trăm ngàn vạn ức chúng sinh vì cầu vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mã não,
san hô các thứ trân châu báu vật vào trong biển lớn. Giả sử chiếc thuyền ấy bị gió lớn
thổi tấp vào nước Quỷ La Sát, nếu trong đó có một người xưng tụng danh hiệu Quán
Thế Âm Bồ Tát thì các người kia đều được giải thoát nạn Quỷ La Sát”
81
18_ Nham Hộ Quán Âm: Ngồi ngay ngắn trong hang động nham thạch, tự tại
thưởng thức mặt nước.
Hoặc cho rằng là Tôn này tượng trưng cho đoạn văn trong Phẩm Phổ Môn
Rắn độc với bò cạp
Hơi độc, khói, lửa đốt
Do sức niệm Quán Âm
Chúng theo tiếng bỏ đi
Bởi vì rắn độc, bò cạp và các loại trùng độc khác phần nhiều trú ở trong hang
động. Cho nên truyền thuyết nói Quán Âm ngồi ngay ngắn nguy hiểm trong hang động
để cứu giúp chúng sinh. Nếu do sức niệm Quán Âm này thời có thể tiêu tan độc khí ấy,
cho nên vẽ tượng Quán Âm này đại đa số chọn tư thế ngồi ngay ngắn trong hang động.
82
19_ Năng Tĩnh Quán Âm: Đứng lặng hồi lâu trên mỏm núi bên cạnh biển, tác
tướng yên tịnh,
Hoặc có người cho rằng Tôn này tượng trưng cho đoạn văn trong Phẩm Phổ
Môn “Giả sử chiếc thuyền bị gió lớn thổi tấp vào nước Quỷ La Sát, nếu trong đó có
một người xưng tụng danh hiệu Quán Âm Bồ Tát thì các người kia đều được giải thoát
nạn Quỷ La Sát”.
83
20_ A Nậu Quán Âm: A Nậu tức là A Nậu Đạt Trì, lại gọi là A Nậu Đại Tuyền,
dịch là Vô Nhiệt Trì (ao không có sự nóng bức). Hình Bồ Tát này là ngồi trên tảng đá
gối trái dựng thẳng bắt chéo nhau, hai tay giao nhau, ngắm nhìn xa xa trên mặt biển.
Có người cho rằng Tôn này tượng trưng cho đoạn văn trong Phẩm Phổ Môn:
“Nếu có người ở trên biển gặp phải Rồng, Cá, các Quỷ, nạn lớn thời do sức niệm
Quán Âm này thời có thể miễn trừ hiểm họa của sóng gió”
84
21_ A Ma Đề Quán Âm: Tức là Vô Úy Quán Âm. Hình tượng ấy có màu thịt
trắng, có 3 con mắt và 4 cánh tay, cỡi con Sư Tử trắng, toàn thân tràn đầy lửa rực, mặc
áo Trời, anh lạc….đại biểu cho việc trang nghiêm; diện mạo từ bi, trạng thái chuyên
tâm chăm chú nhìn về bên trái.
Nhưng tư thế hiển bày trong 33 Quán Âm này là ngồi trên tảng đá gối trái dựng
thẳng bắt chéo nhau, hai tay để trên đầu gối.
Có người cho rằng Tôn này tương đương với hóa thân Tỳ Sa Môn của Bồ Tát
Quán Âm
85
22_ Diệp Y Quán Âm: Ngồi ở đám cỏ trên tảng đá, có người cho rằng Tôn này
tương đương với hóa thân Đế Thích của Bồ Tát Quán Âm
86
23_ Lưu Ly Quán Âm: Biệt danh là Cao Vương Quán Âm. Cỡi một cánh Sen
nổi nhẹ trên mặt nước, hai tay nâng cái bình Lưu Ly.
Có người cho rằng Tôn này tương đương với hóa thân Tự Tại Thiên của Bồ Tát
Quán Âm
87
24_ Đa La Tôn Quán Âm: Lại gọi là Cứu Độ Mẫu Quán Âm, tư thế toàn thân
đứng thẳng cỡi trên mây.
Có người cho rằng Tôn này tượng trưng cho đoạn văn trong Phẩm Phổ Môn
Hoặc bị oán tặc vây
Cầm đao kiếm hãm hại
Do sức niệm Quán Âm
Chúng đều sinh lòng lành
88
25_ Cáp Lợi Quán Âm: Bồ Tát ngồi trong con sò cho nên có tên gọi như vậy.
Tín ngưỡng này bắt nguồn từ Triều Đại nhà Đường trở về sau, trong Phi Kinh
Tạp đã ghi chép.
Quyển 42, Phật Tổ Thống Ký trong đời Đường Văn Tông năm Khai Thành
Nguyên ghi chép rằng: “Khi vua Đường Văn Tông ăn con sò, dùng tay tách mà không
mở được, nên đốt hương khấn cầu, bỗng nhiên con sò biến hiện thành hình tượng Bồ
Tát. Hoàng Đế liền viết chiếu thư cho Chung Nam Sơn Duy Chính Thiền Sư hỏi
nguyên nhân việc này. Sau đó liền chiếu cáo cho chùa chiền trong thiên hạ lập tượng
Quán Âm”. Đây là nguồn gốc về sự tín ngưỡng Cáp Lợi Quán Âm rất phổ biến vì ngư
dân rất sùng bái và tín ngưỡng.
Trong quyển 2 “Phật Tượng Đồ Hối” cho rằng Tôn này tương đương với hóa
thân Bồ Tát của Bồ Tát Quán Âm
89
26_ Lục Thời Quán Âm: Lấy ý Đại Bi thâm sâu, ngày đêm sáu thời thường
thương sót hộ niệm chúng sinh, cho nên gọi là Lục Thời Quán Âm.
Trong phần 2 “Đại Đường Tây Vực Ký” nói: Từ phía trước Bắc Ấn Độ “hợp
sáu thời là một ngày một đêm”, từ sáng đến tối một ngày lại chia ra làm sáu thời, mà
một năm còn chia làm “Thời nóng vừa, thời nóng dữ, thời mùa mưa, thời cây cỏ mọc
um tùm, thời ít lạnh, thời lạnh dữ”, nhân đây một năm cũng gọi là sáu thời, cho nên
“Lục Thời Quán Âm” cũng giải thích là “Thường Thị Chúng Sinh Quán Âm”.
Hình tượng thông hành ở thế gian là cầm cái rương kinh Phạn chứa Lục Tự
Chương Cú Đà La Ni, tụng Đà La Ni này thì được thoát khỏi quả khổ của sáu nẻo,
được sáu diệu môn, chứng sáu căn tương ứng.
Có người cho rằng Tôn này tương đương với hóa thân Cư Sĩ của Bồ Tát Quán
Âm
90
27_ Phổ Bi Quán Âm: Tay cầm Pháp Y rũ xuống phía trước, đứng ở trên núi
cao to chính là Từ Bi của Quán Âm thương sót phổ cập tất cả chúng sinh, Từ Bi ấy
rộng khắp ba ngàn Đại Thiên Thế Giới.
Có người cho rằng là Tôn này tương đương với hóa thân Đại Tự Tại Thiên của
Bồ Tát Quán Âm. Đại Tự Tại Thiên chính là vị thần tối cao của ba cõi, dùng uy đức
thù thắng ấy chiếu khắp tất cả, mà phối hợp với Từ Bi phổ biến bình đẳng của Quán
Âm cho nên gọi là Phổ Bi Quán Âm.
91
28_ Mã Lang Phụ Quán Âm: Tương truyền vào Triều Đại nhà Đường, Bồ Tát
hóa thân làm một cô gái rất xinh đẹp. Vì muốn khiến Đại Chúng phát tâm siêng năng
học Phật, nên dùng hình thức người nào tụng Kinh nhiều sẽ làm vợ của người ấy. Sau
đó y theo lời ước hẹn nhận lời làm vợ của một thanh niên họ Mã, cho nên mới có tên
gọi như vậy.
Có người cho rằng Tôn này tương đương với hóa thân Phụ Nữ của Bồ Tát Quán
Âm
Hoặc có hình tượng Mã Lang Phụ Quán Âm là tay phải cầm quyển Kinh Pháp
Hoa, tay trái cầm cái đầu lâu có hình người nữ.
92
29_ Hợp Chưởng Quán Âm: Đứng trên đài Hoa Sen, làm tư thế chấp tay lại,
dùng hai bàn tay chấp lại ở giữa rỗng cho nên có tên gọi như vậy.
Hoặc cho rằng Tôn này tương đương với hóa thân Bà La Môn của Bồ Tát Quán
Âm
93
30_ Nhất Như Quán Âm: Ngồi trên tòa Hoa Sen ở trên mây, dựng đứng gối trái
làm tư thế giáng phục lôi điện.
Hoặc cho rằng là Tôn này tượng trưng cho đoạn văn trong Phẩm Phổ Môn
Mây sấm nổ, sét đánh
Tuôn mưa đá, mưa lớn
Do sức niệm Quán Âm
Nên liền tiêu tan cả
94
31_ Bất Nhị Quán Âm: Tượng ấy là hai tay bắt chéo nhau, cỡi một chiếc lá sen
nổi trên mặt nước.
Hoặc cho rằng Tôn này tương đương với hóa thân Chấp Kim Cương Thần của
Bồ Tát Quán Âm. Chấp Kim Cang Thần này là vị Thần thủ hộ của Đức Phật, Thân Hệ
Tích này vốn là Hệ Bản Tích, nghĩa là không hai nên gọi là Bất Nhị Quán Âm.
95
32_ Trì Liên Quán Âm: Ngồi cỡi trên chiếc lá Sen, hai tay cầm cọng Sen.
Hoặc cho rằng Tôn này tương đương với hóa thân Đồng Nam, Đồng Nữ của Bồ
Tát Quán Âm
96
33_ Sái Thủy Quán Âm: Tay phải cầm Sái Trượng hoặc cành Dương Liễu, tay
trái cầm cái bình để tưới nước, tác tướng tưới nước Cam Lộ.
Hoặc cho rằng Tôn này tượng trưng cho câu văn trong Phẩm Phổ Môn “Nếu có
người bị nước lớn cuốn trôi, hễ xưng niệm danh hiệu Ngài liền gặp chỗ cạn”.
Hoặc có một thuyết cho rằng Tôn này tượng trưng cho đoạn văn là:
Lòng Bi như sấm chớp
Ý lành diệu tựa mây
Tuôn mưa nước Cam Lộ
Dứt trừ lửa phiền não
Sái Thủy là một loại nước thơm dùng để rưới rảy, niệm tụng ấn từ, gia trì pháp
tu tịnh hóa, dựa vào ý nghĩa của “Dùng tính sạch sẽ của hương thơm giới luật hòa hợp
với tính sạch sẽ của nước Từ Bi tưới khắp Tính sạch sẽ Tâm Địa Pháp Giới của chúng
sinh” để thị hiện nước rưới rảy. Hiện tại Mật Giáo vẫn hành Pháp này. Như vậy dùng
nước tưới rảy để khai phát tất cả Phật Tính của chúng sinh, chính Sái Thủy này là thệ
nguyện của Quán Âm.

97
_ 33 Thể Quán Âm này còn được minh họa như sau:
1_ Dương Liễu Quán Âm:
2_ Long Đầu Quán Âm:
98
3_ Trì Kinh Quán Âm:
4_ Viên Quang Quán Âm:
99
5_ Du Hý Quán Âm:
6_ Bạch Y Quán Âm:
100
7_ Ngọa Liên Quán Âm:
8_ Long Kiến Quán Âm:
101
9_ Thi Lạc Quán Âm:
10_ Ngư Lam Quán Âm:
102
11_ Đức Vương Quán Âm:
12_ Thủy Nguyệt Quán Âm:
103
13_ Nhất Diệp Quán Âm:
14_ Thanh Cảnh Quán Âm (hay Thanh Đầu Quán Âm):
104
15_ Uy Đức Quán Âm:
16_ Diên Mệnh Quán Âm:
105
17_ Chúng Bảo Quán Âm:
18_ Nham Hộ Quán Âm:
106
19_ Năng Tĩnh Quán Âm:
20_ A Nậu Quán Âm:
107
21_ A Ma Đề Quán Âm:
22_ Diệp Y Quán Âm:
108
23_ Lưu Ly Quán Âm:
24_ Đa La Tôn Quán Âm:
109
25_ Cáp Lợi Quán Âm:
26_ Lục Thời Quán Âm:
110
27_ Phổ Bi Quán Âm:
28_ Mã Lang Phụ Quán Âm:
111
29_ Hợp Chưởng Quán Âm:
30_ Nhất Như Quán Âm:
112
31_ Bất Nhị Quán Âm:
32_ Trì Liên Quán Âm:
113
33_ Sái Thủy Quán Âm:
114
MƯỜI HAI TÔN TƯỢNG QUÁN ÂM ỨNG VỚI 12 ĐẠI NGUYỆN
1. Nam mô hiệu Viên Thông, danh Tự Tại, Quán Âm Như Lai, quảng phát hoằng
thệ nguyện.
115
2. Nam mô nhất niệm Tâm vô quái ngại, Quán Âm Như Lai thường cư Nam Hải
nguyện.
116
3. Nam mô trụ Ta Bà, U Minh Giới, Quán Âm Như Lai tầm thanh cứu khổ
nguyện.
117
4. Nam mô hàng Tà Ma, trừ Yêu Quái, Quán Âm Như Lai, năng trừ nguy hiểm
nguyện.
118
5. Nam mô thanh tịnh bình thùy Dương Liễu, Quán Âm Như Lai Cam Lộ sái Tâm
nguyện.
119
6. Nam mô Đại Từ Bi, năng Hỷ Xả, Quán Âm Như Lai, thường hành bình đẳng
nguyện.
120
7. Nam mô trú dạ tuần vô tổn hoại, Quán Âm Như Lai thệ diệt Tam Đồ nguyện.
121
8. Nam mô vọng Nam nham, cần lễ bái, Quán Âm Như Lai, già tỏa giải thoát
nguyện.
122
9. Nam mô tạo Pháp Thuyền du khổ hải, Quán Âm Như Lai độ tận chúng sinh
nguyện.
123
10. Nam mô tiền Tràng Phan, hậu Bảo Cái, Quán Âm Như-Lai tiếp dẫn Tây-
Phương nguyện.
124
11. Nam mô Vô Lượng Thọ Phật cảnh giới, Quán Âm Như Lai, Di Ðà thọ ký
nguyện.
125
12. Nam mô đoan nghiêm thân vô tỉ trại, Quán Âm Như Lai, quả tu thập nhị
nguyện.

No comments:

Post a Comment