Friday, April 14, 2017

THẬP NHẤT DIỆN THẦN CHÚ TÂM KINH



THẬP NHẤT DIỆN THẦN CHÚ TÂM KINH
 Hán dịch: Đời Đường
Tam Tạng Pháp Sư HUYỀN TRANG phụng chiếu dịch
Việt dịch: HUYỀN THANH
* * *
Như vậy tôi nghe. Một thời Đức Bạc Già Phạm (Bhagavam) ngự tại Đạo Trường Trúc Ý ở Thất La Phiệt cùng với Chúng Đại Bật Sô gồm 2500 người và vô lượng số Bồ Tát Ma Ha Tát do Từ Thị Bồ Tát Maitra Bodhisatva) làm Thượng Thủ đến dự. Lại có vô lượng Bật Sô (Bhiksu), Bật Sô Ni (Bhiksunì), Ô Ba Sách Ca (Upàsaka), Ô Ba Tư Ca (Upàsìka) với các hàng Trời (Deva), Rồng (Nàga), Dược Xoa (Yaksa), Kiền Đạt Phộc (Gandharva), A Tố Lạc (Asura), Yết Lộ Trà (Garuda), Khẩn Nại Lạc (Kinnara), Mạc Hô Lạc Già (Mahoraga), Cưu Bạn Trà (Kumbhandha), Tỳ Xá Già (Pi’sàca), người (Manusya), Phi Nhân (Amanusya)… đại chúng vây quanh cung kính tôn trọng tán thán để rồi nói Pháp.
Bấy giờ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát (Avalokite’svaràya Bodhisatvàya Mahàsatvàya) cùng với vô lượng câu chi na dữu đa trăm ngàn Trì Chú Tiên Nhân (Vidyadhàra Rsì) trước sau vây quanh đi đến nơi Đức Phật ngự. Đến rồi đỉnh lễ 2 chân của Đức Thế Tôn, nhiễu quanh bên phải 3 vòng rồi lui về ngồi một bên, bạch Phật rằng:” Thế Tôn ! Con có Thần Chú Tâm, tên là Thập Nhất Diện , có đủ uy lực lớn mà 11 câu chi chư Phật đã nói. Nay con muốn vì lợi ích an vui cho tất cả Hữu Tình, trừ tất cả bệnh, diệt tất cả ác, chận đứng tất cả sự chẳng tốt lành, đẩy lui tất cả mộng tưởng ác, che chận tất cả sự chết không đúng thời, muốn các loài có tâm ác được điều tĩnh, kẽ có nỗi lo khổ được an vui, kẻ có oán đối được hòa giải, Ma Quỷ chướng ngại đều tiêu diệt, Tâm có nguyện cầu đều xứng toại.
Thế Tôn! Con chẳng thấy Thế Gian hoặc Trời (Deva) hoặc Ma (Màrà) hoặc Phạm (Bràhma) hoặc Sa Môn (‘Sramana) hoặc hàng Bà La Môn (Brahman) dùng Thần Chú này phòng hộ thân ấy , thọ trì, đọc tụng, viết chép, lưu bố mà bị tất cả tai hoạnh, ma chướng, dao gậy, thuốc độc, yểm đảo, chú thuật… gây hại được.Con cũng chẳng thấy dùng Thần Chú này tùy nơi cư trú , hoặc xa hoặc gần, kết tác Giới xong mà có thể vượt qua nhiễu hại lẫn nhau, chỉ trừ Nghiệp ác quyết định đến lúc chín mùi. Thế Tôn ! Do đấy chứng biết việc đó là như thế. Chỉ nên tin nhận, chẳng nên phân biệt. Như điều này ắt tất cả tai hoạnh thảy đều xa lìa chẳng thể đến gần. Thần Chú Tâm này là nơi tất cả chư Phật cùng xưng tán, cùng tùy hỷ, tất cả Như Lai nhớ giữ thủ hộ.
Thế Tôn! Con nhớ về thời quá khứ cách nay căng già sa đẳng kiếp có Đức Phật ra đời, tên là Bách Liên Hoa Nhãn Vô Chướng Ngại Đỉnh Xí Thịnh Công Đức Quang Vương Như Lai . Vào lúc ấy, con là Đại Tiên Nhân (Mahà Rsì) theo Đức Thế Tôn ấy nhận được Chú này.Được Chú này thời nhìn thấy 10 phương chư Phật, lập tức chứng được Vô Sinh Pháp Nhẫn. Nên biết Chú này có đủ Đại Uy Lực.
Vì Thế nếu có kẻ trai lành.người nữ thiện tĩnh tín muốn thọ trì , đọc tụng Thần Chú này cần phải cung kính, chí tâm , cột buộc tâm, mỗi lúc sáng sớm như Pháp thanh tĩnh niệm tụng Chú này 108 biến. Nếu có thể như thế thì đời này được 10 loại thắng lợi. Thế nào là mười ?
1) Thân thường không có bệnh
2) Luôn được 10 phương chư Phật nhiếp thọ
3) Tài bảo, quần áo, thức ăn thọ dùng không cùng tận
4) Hay điều phục oán địch mà không có sợ hãi
5) Khiến các bậc tôn quý cung kính mở lời trước
6) Cổ Độc, Quỷ Mỵ chẳng thể gây thương hại được
7) Tất cả đao gậy chẳng thể gây hại được
8) Nước chẳng thể cuốn chìm
9) Lửa chẳng thể thiêu đốt
10) Cả đời chẳng bị chết đột ngột.
- Lại được 4 loại công đức thắng lợi
1) Lúc mệnh chung được thấy chư Phật
2) Khi chết chẳng bị đọa vào các nẻo ác
3) Chẳng bị chết do hiểm ách
4) Được sinh về Thế Giới Cực Lạc
Thế Tôn! Con nhớ về thời quá khứ cách nay 10 căng già sa đẳng kiếp, lại vượt xa hơn nữa có Đức Phật ra đời, tên là Mỹ Am Hương Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác. Khi ấy thân con là vị Đại Cư Sĩ ơ nơi Đức Phật ấy nhận được Chú này. Được Chú này thời liền ở sinh tử vượt qua 4 vạn kiếp tụng trì Chú này ,lại được Chư Phật Đại Bi Trí Tạng nhất thiết Bồ Tát Giải Thoát Pháp Môn Do uy lực này hay cứu mọi loại khổ nạn của tất cả lao ngục, cột trói, gông cùm, xiềng xích, tội bị tử hình, lửa, nước, gió, giặc cướp, Cổ Độc, Yểm Đảo, người, phi nhân
Do đây con đối với tất cả Hữu Tình hay làm nơi Quy Y, cứu hộ, an ủi, cồn bãi, nhà cửa… Dùng uy lực của Chú này nhiếp lấy Nghiệp Ac của tất cả kiếp, với hàng La Sát trước tiên khiến phát Tâm Từ , Tâm thương xót sau đó an lập nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (Anuttara samyaksambuddha – Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác)
Thế Tôn! Thần Chú này của con có uy lực lớn. Nếu tụng một biến liền hay trừ diệt 4 tội căn bản và 5 tội Vô Gián khiến không còn dư sót, huống chi như thuyết mà tu hành.
Nếu đã từng ở nơi trăm ngàn câu chi na dũu đa Phật gieo trồng các căn lành thì đến ngày nay được nghe Chú này, huống chi có thể thọ trì như thuyết tu hành.
Nếu có thể ngày đêm đọc tụng, thọ trì Thần Chú này thì con sẽ khiến cho hết thảy nguyện cầu của người ấy đều được như ý.
Nếu có thể ở mỗi nửa tháng hoặc ngày 14 hoặc ngày 15 thọ trì Trai Giới như Pháp thanh tĩnh , buộc Tâm nơi con, tụng Thần Chú này liền ở sinh tử vượt 4 vạn kiếp.
Thế Tôn! Con do Chú này mà có danh hiệu tôn quý, khó có thể được nghe. Nếu có kẻ xưng niệm Danh Hiệu của trăm ngàn câu chi na dữu đa chư Phật , lại có kẻ tạm thời đối với Danh Hiệu của con , chí tâm xưng niệm thì công đức của 2 người ấy ngang bằng nhau. Chư Hữu xưng niệm danh hiệu của con thì tất cả đều được Địa Bất Thoái Chuyển, lìa tất cả bệnh, thoát tất cả chướng với tất cả sự sợ hãi và hay diệt trừ điều ác của Thân Ngữ Ý, huống chi có thể đối với Thần Chú mà con đã nói thọ trì, đọc tụng, như Pháp tu hành. Nên biết người đó đối với Vô Thượng Bồ Đề ắt được lãnh thọ như ở trong lòng bàn tay”
Bấy giờ Đức Thế Tôn khen ngợi Quán Tự Tại Bồ Tát rằng:” Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Ông hay đối với tất cả Hữu Tình phát khởi ý Đại Bi như vậy mà muốn mở bày Đại Thần Chú này.
Này Thiện Nam Tử! Ông do phương tiện này hay cứu thoát tất cả Hữu Tình, hết thảy bệnh khổ, chướng nạn, sự sợ hãi, điều ác của Thân Ngữ Ý cho đến an lập tất cả Hữu Tình nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
ThiệnNamTử ! Ta cũng tùy hỷ nhận Thần Chú của ông. Ông hãy nói đi”
Thời Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo hở vai phải, quỳ gối phải sát đất rồi bạch Phật rằng:” Người tụng Chú này nên tác nói là:
Kính lễ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ tất cả Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác
Kính lễ Đấng Đại Bi Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát
Đát Điệt Tha: An, đạt la đạt la, địa lý địa lý, đổ lỗ đổ lỗ, ế tai phạt tai, chiết lệ chiết lệ, bát la chiết lệ, bát la chiết lệ, câu tố mê, câu tô ma phạt lệ. Ế lý, nhĩ lý, chỉ lý, chỉ vi tri lý, xã la ma ba nại gia, thú đà tát đỏa, mạc ha ca lỗ ni ca, sá ha
NAMO RATNATRAYÀYA
NAMAH ÀRYA JNÀNA SÀGARA VAIROCANA VYÙHA RÀJÀYA TATHÀGATÀYA ARHATE SAMYAKSAMBUDDHÀYA
NAMAH SARVA TATHÀGATEBHYU ARHATEBHYAH SAMYAKSAMBUDDHEBHYAH
NAMAH ÀRYA AVALOKITE’SVARÀYA BODHISATVÀYA MAHÀSATVÀYA MAHÀ KÀRUNIKÀYA
TADYATHÀ : OM – DHARA DHARA – DHIRI DHIRI – DHURU DHURU – ITI VATI, CALE CALE, PRACALE PRACALE, KUSUME KUSUMA VALE – IRI MIRI CIRI – CITI JVALAM ÀPANÀYA ‘SUDDHASATVA MAHÀ KÀRUNIKA – SVÀHÀ
Thế Tôn! Đây là Căn Bản Thần Chú. Nếu có người niệm tụng thì được công đức thắng lợi như nói ở trên.
Kính lễ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ tất cả Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác
Kính lễ Đấng Đại Bi Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát
Đát điệt tha : Ha Ha Ha Ha, Ế lệ, nhĩ lệ, chỉ lệ, tỳ lệ, khí lệ, tứ lệ, sá ha
(Quy mệnh đọc như bài chú trước)
TADYATHÀ : HA HA HA HA – IRI MIRI CIRI VIRI KIRI HIRI – SVÀHÀ
Thế Tôn ! Đây là Chú Thủy Cập Y Chú (Thần Chú dùng chú vào nước với áo). Nếu muốn vào Đạo Trường. Trước tiên nên tắm gội, sau đó dùng Chú này chú vào nước 7 biến rồi rưới lên thân kết tĩnh. Lại dùng Chú này chú vào áo 7 biến sau đó lấy mặc.
Kính lễ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ tất cả Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác
Kính lễ Đấng Đại Bi Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát
Đát điệt tha : Trụ lỗ, trụ lỗ, ha ha ha ha, sa ha
(Quy mệnh như trước)
TADYATHÀ: SÙRU SÙRU – HA HA HA HA – SVÀHÀ
Thế Tôn ! Đây là Chú Hương Cập Đăng Chú (Thần Chú dùng chú vào hương với đèn). Nếu vào Đạo Trường muốn đốt hương cúng dường thời trước tiên dùng Chú này chú vào hương 7 biến sau đó mới đốt. Lúc muốn thắp đèn thời trước tiên dùng Chú này chú vào dầu 7 biến sau đó mới thắp đèn.
Kính lễ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ tất cả Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác
Kính lễ Đấng Đại Bi Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát
Đát điệt tha: Tử lý tử lý, địa lý địa lý, tử lý, địa lý, sa ha
(Quy mệnh như trước)
TADYATHÀ: SIRI SIRI – DHIRI DHIRI – SIRI DHIRI – SVÀHÀ
Thế Tôn ! Đây là Chú Hương Hoa Man Chú . Nếu vào Đạo Trường đem Hoa, hương, vòng hoa (Man) cúng dường thời trước tiên chú vào hoa 7 biến rồi rải lên Tôn Tượng. Lại dùng Chú này chú vào hương (Dầu Thơm) 7 biến dùng xoa bôi Tôn Tượng. Lại dùng Chú này chú vào vòng hoa 7 biến để nghiêm sức Tôn Tượng.
Kính lễ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ tất cả Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác
Kính lễ Đấng Đại Bi Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát
Đát Điệt tha: Sa đệ sa đệ, tử địa tử địa, tố trụ tố trụ, sa ha
(Quy mệnh như trước)
TADYATHÀ: SATÌ SATÌ – SITI SITI – SUSU SUSU – SVÀHÀ
Thế Tôn ! Đây là Chú Hiến Phật Cúng Chú. Nếu muốn đem thức ăn uống, hoa quả… cúng dường Phật thời trước tiên tụng Chú này chú vào 21 biến sau đó hiến phụng.
Kính lễ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ tất cả Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác
Kính lễ Đấng Đại Bi Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát
Đát điệt tha: Mạt tử, đạt tử, chiết lý chiết lý, hổ lỗ hổ lỗ, chủ lỗ chủ lỗ, tố lỗ tố lỗ, mẫu lỗ mẫu lỗ, sa ha
(Quy mệnh như trước)
TADYATHÀ: MASI DHASI – CIRI CIRI – HURU HURU – CURU CURU – SURU SURU – MURU MURU – SVÀHÀ
Thế Tôn! Đây là Chú Tân Chú (Thân Chú dùng chú vào củi để thiêu đốt). Nếu muốn dùng Căn Bản Thần Chú bên trên, tùy theo việc tạo tác thời trước tiên dùng Chú này chú vào cây Xà Để Hoa một biến rồi dùng nhóm lửa. Lại lấy riêng cây Xà Để Hoa chặt 31 đoạn dài một tấc. Dùng Lạc, bơ, mật thấm ướt rồi để qua một đêm. Mỗi lần lấy một đoạn, Chú vào một biến rồi ném vào lửa thiêu đốt, cho đến hết. Sau đó tùy việc, làm điều nên làm
Kính lễ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ tất cả Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác
Kính lễ Đấng Đại Bi Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát
Đát điệt tha: Ế lý, nhĩ lý, tỷ lý, để lý, chỉ lý, tứ lý, sa ha
( Quy mệnh như trước )
TADYATHÀ : IRI MIRI VIRI DHIRI KIRI HIRI – SVÀHÀ
Thế Tôn ! Đây là Kết Giới Chú. Lúc muốn kết giới thời trước tiên dùng Chú này chú vào nước 7 biến rưới vảy 4 phương. Hoặc chú vào hạt cải, hoặc chú vào tro sạch đều 7 biến rải khắp 4 phương. Tùy Tâm nghĩ xa gần liền thành Giới Bạn mà làm phòng hộ.
Kính lễ Tam Bảo
Kính lễ Thánh Trí Hải Biến Chiếu Trang Nghiêm Vương Như Lai
Kính lễ tất cả Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác
Kính lễ Đấng Đại Bi Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát
Đát điệt tha: Tỷ đê tỷ đê, để đê để đê, chỉ đê chỉ đê, phỉ đê phỉ đê, yết xa yết xa, bạc già phạm, a lợi gia bà lô chỉ đê thấp phạt la, táp phộc bà phộc nam, sa ha
(Quy Mệnh như trước)
TADYATHÀ: VITI VITI – DHITI DHITI – KITI KITI – PÌTI PÌTI – GACCHA GACCHA BHAGAVAN ÀRYA AVALOKITE’SVARA SVABHÀVANÀM – SVÀHÀ
Thế Tôn! Đây là Thỉnh Ngã Hoàn Tự Cung Chú (Thần Chú dùng thỉnh Quán Tự Tại Bồ Tát quay trở về cung điện của ngài). Nếu việc tạo làm đã xong. Khi thỉnh con quay lại Bản Cung thời nên dùng Chú này chú vào nước 7 biến rưới vảy 4 phương thì con liền quay trở về .
Thế Tôn! Thần Chú như vậy tuy chẳng thành lập mà cũng hay làm mọi loại sự nghiệp. Chí Tâm niệm tụng thì không có gì không được như nguyện.
- Nếu bị bệnh sốt rét, hoặc một ngày phát một lần , hoặc 2 ngày, 3 ngày, 4 ngày phát bệnh một lần. Nếu bị bệnh Quỷ hoặc Bộ Đa Quỷ (Bhùta) gây ra, hoặc Trà Kỳ Ni (Dàkinì) gậy ra, hoặc Tất Xá Già (Pi’sàca) gây ra, hoặc Yết Tra Bố Đát Na (Kataputana) gây ra , Hoặc Điên Quỷ (Quỷ gây bệnh điên cuồng) gây ra, hoặc Giản Quỷ (Quỷ gây bệnh thần kinh) gây ra… đều dùng Chú này chú vào người bệnh đó 108 biến liền được trừ khỏi.
- Nếu người nặng về Chướng. Dùng chỉ ngũ sắc tụng Chú thắt gút, cứ một lần Chú thì kết một gút, đủ 108 gút rồi đem buộc trên cổ người bệnh, hoặc đeo trên cánh tay thì tội chướng tiêu diệt, bệnh liền khỏi
- Nếu bị bệnh Đinh Thũng, Ung Thũng, gân thịt mềm không cử động được, nhọt mủ, nhọt bọc, ung thư, bạch lại, hắc lào (lác)… mọi loại bệnh ác. Nếu bị đao, tên, mâu, sao (Kích dài) gây thương tích, hoặc bị rắn, rết, bò cạp, ong độc cắn thì đều dùng Chú này chú vào 7 biến liền được trừ khỏi.
- Nếu người bị Chướng nặng nề thì chú vào đất bùn màu vàng 7 biến, dùng xoa nơi bị bệnh thì mọi khổ được trừ khỏi
- Nếu bị Noãn Phong, Thiên Phong, Chu Phong, bệnh cảm gió làm tai điếc, mũi nghẹt đều nên chí tâm niệm tụng Chú này rồi chú vào người bị bệnh 108 biến thì bệnh liền khỏi
- Nếu người bị chướng nặng. Dùng dầu hoặc bơ chưng sắc với vỏ cây hoa và Thanh Mộc Hương. Mỗi lần Chú 7 biến rồi đem xoa thân hoặc nhỏ vào lỗ tai, lỗ mũi hoặc khiến uống vào , liền được khỏi bệnh.
- Nếu hết thảy mọi loại bệnh tật khác đều nên chí tâm dùng Chú này, hoặc tự niệm tụng liền được trừ khỏi bệnh.
Thế Tôn! Nếu muốn thành lập Thần Chú này , cần phải dùng Bạch Chiên Đàn cứng tốt không có khe hở khắc làm tượng Quán Tự Tại Bồ Tát dài một nửa khuỷu tay.Taytrái cầm hoa sen hồng và bình Quân Trì. Giương cánh tay phải cầm tràng hạt với tạo làm tay Thí Vô Úy (Như vậy là 4 tay). Tượng làm 11 mặt, 3 mặt phía trước tạo tướng Từ Bi, 3 mặt bên trái tạo tướng Sân Nộ, 3 mặt bên phải tạo tướng ló nanh trắng lên trên, một mặt ngay phía sau tạo tượng Bạo Ac Đại Tiếu, một mặt trên đỉnh đầu tạo tượng mặt Phật. Trong các mão trên đầu đều làm một thân Phật. Toàn thân Quán Thế Am Bồ Tát (Tức tượng Quán Tự Tại Bồ Tát) ấy có đủ nhóm Anh Lạc. Mọi thứ trang nghiêm.
Tạo Tượng này xong. Muốn cầu nguyện thì mặc áo mới sạch, thọ trì Trai Giới. Từ ngày 1 của kỳ Bạch Nguyệt đến ngày 8 , mỗi ngày 3 Thời niệm tụng Chú này 108 biến hoặc vô lượng biến. Từ đây về sau ơ nơi Tĩnh Xứ trải tòa thanh tĩnh, an đặt tượng Quán Tự Tại Bồ Tát đã tạo, hướng mặt về phương Tây, tùy sức bày biện, hiến các thức ăn uống. Chỉ đốt Trầm Thủy Hương và Tô Hợp Hương. Hành Giả nên ăn Đại Mạch, sữa. Như trước niệm tụng đến ngày 13. Từ đây về sau bày vật cúng nhiều hơn trước gấp bội. Hành Giả nên ăn Tam Bạch Thực là Sữa, Lạc, Cháo. Lấy gỗ cây Bồ Đề nhóm lửa trước Tượng. Lại lấy gỗ ấy chặt 1008 đoạn dài một tấc. Dùng dầu Đổ Lỗ Sắc Ca thấm vào. Mỗi lần lấy một đoạn, tụng Chú một biến rồi ném vào trong lửa, cho đến hết. Bấy giờ đại địa nghiêng ngả chấn động, do đó thân tượng này cũng liền vận động. Từ trong miệng của khuôn mặt cao nhất liền phát ra tiếng khen Hành Giả rằng:” Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Ngươi có thể cần khổ (Siêng năng khổ nhọc) như vậy để cầu nguyện. Ta sẽ khiến cho ước nguyện của ngươi được đầy đủ. Khiến cho ngươi ở đây mà bay lên hư không đi lại. Hoặc lại khiến cho ngươi dạo chơi không trở ngại. Hoặc làm vua trong Trì Chú Tiên Nhân. Hoặc khiến như Ta tự tại không chướng ngại
Lại nữa Hành Giả. Hoặc vào ngày 15 của kỳ Bạch Nguyệt, đem tượng Thập Nhất Diện Quán Tự Tại Bồ Tát (Eka da’sa Mukhe Avalokite’svara bodhisatva) này đặt trong Chế Đa (Caitya – Cái Tháp, Điện thờ) có Phật Đà Đô (Buddha Dhàtu – Phật Giới, cõi của Phật) mặc áo mới sạch, thọ trì Trai Giới trải qua một ngày một đêm chẳng uống chẳng ăn. Lấy Tô Mạt Na Hoa (Sumana – Xứng Ý hoa) 1008 cái. Mỗi lần lấy một hoa, chú vào một biến rồi ném lên trên Tượng, cho đến hết. Lúc đó trong miệng của một khuôn mặt ở ngay phía trước phát ra tiếng như sấm gầm. Do đây liền khiến cho đại địa chấn động. Khi ấy Hành Giả nên tự an tâm, đừng sinh sợ hãi, niệm Thần Chú cầu xin ước nguyện, nói lời như vầy:” Kính lễ Đấng Đại Bi Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát. Vào lúc nào con mới có thể làm chỗ nương tựa lớn cho tất cả chúng Hữu Tình? Hay mãn ước nguyện trong tâm của tất cả Hữu Tình?”
Bấy giờ Quán Tự Tại Bồ Tát liền ban cho nguyện ấy. Ngay lúc ban cho nguyện thì các hàng Trời, Rồng không thể gây ra chướng ngại.
- Lại nữa Hành Giả. Vào lúc Nguyệt Thực, lấy một lạng bơ chứa đầy trong vật khí bằng bạc để trước Tượng này, niệm tụng Chú này cho đến khi mặt trăng hoàn lại như cũ, liền lấy ăn vào thì các bệnh trong thân, không có gì không khỏi.
- Lại nữa Hành Giả nên lấy Hùng Hoàng, Thư Hoàng với phân lượng bằng nhau để trước Tượng này, niệm tụng Chú này 1008 biến rồi hòa với nước, chấm trên my gian (Tam Tinh) sẽ được thành tựu 3 việc như trướcđã nói. Nếu hòa với nước nóng ấm rồi tắm gội thân thể thì tất cả chướng ngại, tất cả mộng ác, tất cả bệnh tật đều được trừ khỏi.
- Lại nữa nếu có Oán Tặc ở phương khác muốn đến xâm lấn. Nên lấy một viên Yên Chỉ (Mỡ Sáp đỏ) tụng Chú này chú vào 108 biến rồi trang điểm Tượng này , hướng khuôn mặt sân nộ bên trái thẳng về phía oán tặc sẽ khiến cho quân oán tặc ấy chẳng được tiến về phía trước.
- Lại nữa nếu người, súc vật ở trong quốc thổ bị vướng nạn dịch. Ở trước Tượng này nhóm lửa bằng gỗ Nhậm Bà . Lại lấy riêng gỗ ấy chặt 1008 đoạn dài một tấc . Mỗi lần lấy một đoạn, bôi dầu hạt cải , chú vào một biến rồi ném vào trong lửa, cho đến hết. Lại lấy chỉ đào (Chỉ màu đỏ tươi) tác 7 Chú Kết, một lần chú thì một lần thắt gút, rồi treo ở đỉnh đầu của mặt Phật trên cùng sẽ hay khiến cho bệnh dịch đều được tiêu trừ hết cả. Trừ bệnh dịch xong thì cởi bỏ sợi dây Chú đó.
- Lại nữa nếu có người bị hàng Trà Kiết Ni (Dàkinì) , Bộ Đa Quỷ (Bhùta), Mỵ gây thành bệnh. Nên lấy chỉ trắng tác 21 Chú Kết, một lần Chú thì một lần thắt một gút rồi treo trên đỉnh đầu của khuôn mặt Từ Bi ở chính diện. Trải qua một đêm, cởi lấy đem đeo trên cổ người bệnh thì bệnh liền trừ khỏi. Nếu do nghiệp chướng nặng chẳng trừ khỏi, nên lấy sợi dây này liền chú vào 108 biến treo trên đỉnh đầu Tượng ở chỗ lúc trước, trải qua một đêm, cởi lấy rồi đeo trên cổ người bệnh ắt được trừ khỏi.
- Lại nữa nếu có người bệnh lâu dài bị khốn khổ chẳng khỏi. Hoặc có Quỷ Thần ác vào trong nhà. Nên lấy 108 viên Huân Lục Hương để ở trước Tượng này. Cứ một viên thì chú một biến rồi quăng vào lửa, cho đến hết. Lại lấy chỉ trắng tác 21 Chú Kết, cứ một lần chú thì kết một gút rồi cột trên đỉnh đầu của khuôn mặt Từ Bi ở chính diện. Trải qua một đêm, cởi lấy rồi đeo trên cổ người bệnh thì bệnh liền trừ khỏi, Quỷ ác lui tan.
- Lại nữa nếu bị kẻ oán thù tìm dịp thuận tiện đấu tranh, yểm đảo muốn gây suy bại. Nên đem mọi loại hương hoa, các vật cúng dường Tượng này. Lấy cây Bà Thước Ca nhóm lửa trước Tượng. Lại lấy 108 viên Vân Đài Tử đều chú một biến rồi ném vào trong lửa. Lại lấy chỉ trắng tác 108 gút, cột trên đỉnh đầu của khuôn mặt sân nộ bên trái Tượng, trải qua một đêm, cởi lấy sợi dây này, xưng tên kẻ oán thù, cắt mỗi một gút đều bỏ mỗi chỗ khác nhau, một lần xưng thì một lần cắt cho đến hết sẽ khiến cho mọi việc làm của kẻ oán thù ấy chẳng toại ý, tự nhiên quy phục.
- Lại nữa nếu có người muốn cầu các việc tốt lành. Lấy chỉ ngũ sắc tác sợi dây Chú có 108 gút, một lần chú thì một lần kết gút. Lại ở trước Tượng, chú vào 7 biến, cột trên đỉnh đầu của khuôn mặt Từ Bi ở chính diện. Trải qua một đêm, cởi lấy rồi buộc trên thân của mình thì việc mong cầu được như ý.
- Lại nữa Nếu biết trong thân có các chướng nạn, mong cầu việc lành phần nhiều chẳng như tâm, suy họa liên tục không duyên cớ cứ đến. Nên dùng nước thơm tắm Tượng này. Lại lấy nước này, chú vào 108 biến dùng tắm thân tượng Tỳ Na Dạ Ca . Lại lấy nước ấy , chú vào 108 biến rồi tự rưới lên thân mình thì tất cả chướng nạn tự nhiên tiêu diệt. Hết thảy việc mong cầu không có gì không như ý.
Bấy giờ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát nói Kinh này xong thời tất cả Đại Chúng đồng thời khen rằng:” Lành thay! Lành thay Đại Sĩ! Ngài hay vì muốn lợi ích an vui cho các Hữu Tình nên nói Thần Chú này. Chúng tôi tùy hỷ, cũng nguyện thọ trì”.
Khi ấy Đại Chúng vui vẻ hớn hở nhiễu quanh Đức Phật 3 vòng, làm lễ rồi lui ra.
THẬP NHẤT DIỆN THẦN CHÚ TÂM KINH
Việt dịch: HUYỀN THANH

Kinh Phúc Báo của Tạo Lập Hình Tượng Phật



Kinh Phúc Báo của Tạo Lập Hình Tượng Phật


Lúc bấy giờ Đức Phật đi đến vườn cây của Trưởng giả Mỹ Âm ở trong nước Bất Tĩnh. Vị quốc vương của nước này tên là Xuất Ái, chỉ mới 14 tuổi. Khi nghe tin Phật đang đến, nhà vua liền sai quần thần và đoàn tùy tùng đều đi theo hộ giá để nghênh tiếp Đức Phật. Khi trông thấy Thế Tôn từ nơi xa, trong lòng của ngài vui mừng hớn hở khôn xiết. Nhà vua ra lệnh dừng xe, rồi xuống xe đi bộ và không cho quần thần cùng đoàn tùy tùng với những người cầm lọng theo hầu.

Nhà vua liền đi về phía trước, rồi cúi đầu đỉnh lễ sát đất. Khi ngài đỉnh lễ xong thì đứng dậy, rồi lại đi về phía trước và làm tiếp tục ba lần như thế.

Đức Phật bảo:

"Đại vương hãy đến đây."

Lúc đó nhà vua đi tới ở trước Phật, rồi cúi đầu đỉnh lễ với trán chạm sát chân của Phật, nhiễu Phật ba vòng, hai gối quỳ, chắp tay và thưa với Phật rằng:

"Trên cõi trời và dưới chốn nhân gian, không một ai có thể sánh bằng Phật. Khuôn mặt và thân thể của Phật hôm nay phóng ra ánh sáng hiển hách. Con ngắm nhìn Đức Phật mãi mà không chán mỏi. Phật là bậc thầy của trời người. Lòng từ của Phật rải khắp đến muôn loài."

Đức Phật lặng yên không trả lời.

Nhà vua lại thưa với Phật rằng:

"Thưa Thế Tôn! Người làm thiện tất được phúc, nhưng nó sẽ đưa họ về đâu? Sau khi Phật đi rồi, con e rằng sẽ không còn thấy Phật nữa. Con muốn làm hình tượng của Phật để cung kính phụng thờ. Vậy thì sau này con sẽ được phúc gì? Kính mong Đức Phật thương xót mà thuyết giảng cho con. Con muốn biết việc ấy."

Lúc bấy giờ Phật bảo đại vương trẻ tuổi rằng:

"Điều đại vương hỏi rất hay. Hãy lắng nghe lời Ta nói. Khi nghe rồi, hãy ghi nhớ vào lòng."

Nhà vua liền cúi đầu thưa rằng:

"Dạ, con xin vâng lời Phật dạy."

Phật bảo nhà vua rằng:

"Ta bây giờ sẽ thuyết giảng về phúc đức có được của người làm hình tượng Phật cho ngài rõ."

Nhà vua thưa rằng:

"Dạ, con xin tạ ơn Ngài."


Đức Phật bảo:

"Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ có đôi mắt trong sáng, diện mạo đoan chính, thân thể và tay chân luôn xinh đẹp, mềm mại. Giả sử họ sinh lên trời thì đôi mắt trong sáng và diện mạo đoan chính của họ cũng trội hơn chư thiên. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ không gặp các việc ác; thân thể đều hoàn chỉnh. Sau khi chết, họ sẽ sinh lên cõi Phạm Thiên. Lại nữa, tướng mạo đoan chính với tuyệt đẹp vô song của họ sẽ vượt hơn các thiên chúng khác, và còn được chư thiên cung kính. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ sinh vào nhà tôn quý có thế lực; tuổi thọ và sức khỏe của họ vượt hơn người thế gian. Ở mọi nơi sinh ra, họ sẽ không sinh vào gia đình bần cùng. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ có thân hình xinh đẹp với màu vàng tím và đoan chính không ai sánh kịp. Họ sẽ luôn được mọi người kính mến và thương yêu. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ sinh vào nhà phú quý; tiền tài trân bảo nhiều chẳng kể xiết. Họ sẽ luôn được cha mẹ anh em thương yêu và thân bằng quyến thuộc kính trọng. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ thường sinh vào nhà đế vương, vương hầu hoặc trong gia đình lương thiện ở châu Thắng Kim. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ làm đế vương. Ở trong hàng vua chúa, họ lại là đấng tôn quý nhất, được các quốc vương quy phục và kính ngưỡng. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ làm vua Chuyển Luân. Tất cả các quốc vương ở bốn châu thiên hạ đều thần phục và làm quyến thuộc của họ. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ làm vua Chuyển Luân, có thể lên trời và trở về tùy ý; mọi việc làm không có gì mà chẳng đến nơi đến chốn. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ sinh lên cõi Phạm Thiên, thọ mạng dài hơn một kiếp, có trí tuệ thù thắng vô thượng và không ai sánh bằng. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Sau khi thọ hết phúc ở cõi Phạm Thiên, họ lại sinh xuống trong một gia đình hiếu thuận và biết Phật Pháp. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ được cha mẹ thương yêu và quý trọng. Sau khi mạng chung, họ lại được sinh lên trời. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì sau khi chết, họ sẽ không bao giờ còn sinh vào đường ác. Họ sẽ luôn biết tự kiềm chế và cõi lòng luôn hướng về Phật Đạo.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, họ sẽ tôn trọng Kinh điển. Lòng họ luôn muốn cúng dường tháp Phật với nhiều loại hoa đẹp, hương quý, lụa nhiều màu, thắp đèn, và các kỳ trân dị bảo trên thế gian. Vô số kiếp về sau, họ sẽ đắc Đạo tịch diệt của Phật. Những ai có tâm ý muốn dâng lên trân bảo vi diệu để cúng dường Phật thì đều không phải là người thường; họ nhất định đều là những vị cũng đã làm hình tượng Phật và tu Đạo Bồ-tát ở đời trước. Do làm hình tượng Phật nên mới được phúc như vậy.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì ở đời sau, phúc báo của họ sẽ không có cùng tận, chẳng thể nào nói cho xuể. Dẫu cho có thể đong lường hết sạch nước ở sông và biển trong bốn châu thiên hạ, nhưng phúc có được của họ từ việc làm hình tượng Phật, thì còn gấp mười lần so với nước ở sông và biển trong rất nhiều bốn châu thiên hạ kia. Ở vào đời sau, họ sẽ được người kính mến và trợ giúp.

Người làm hình tượng Phật được ví như người có ngôi nhà bền vững, dẫu trời mưa đi nữa thì họ vẫn không gì phải sợ.

Nếu ai làm hình tượng Phật, thì sau khi chết, họ sẽ không còn sinh vào các đường ác, gồm có: địa ngục, ngạ quỷ, và bàng sinh.

Nếu ai thấy hình tượng Phật, rồi với lòng cung kính, họ chắp tay và quy y ở trước tháp xá-lợi của Phật, thì mãi đến trăm kiếp về sau, họ sẽ không bao giờ còn sinh vào chốn bàng sinh, ngạ quỷ, hay địa ngục. Sau khi chết, họ liền sinh lên trời. Khi thiên phúc đã hết, họ lại sinh xuống nhân gian trong một gia đình giàu sang có thế lực, và những sự phúc báo của họ thì không thể nào kể xiết. Cuối cùng họ sẽ đắc Đạo tịch diệt của Phật."


Phật bảo vua Xuất Ái:

"Người làm thiện mà tạo hình tượng của Phật thì sẽ có phúc như vậy đó--quyết không hư vọng."

Lúc bấy giờ vua Xuất Ái dùng kệ tán thán Phật rằng:

"Phật là bậc Đại Thánh
Thuyết Pháp cho chúng sinh
Ở tại nước Bất Tĩnh
Trong khu vườn Mỹ Âm
Bấy giờ vua Xuất Ái
Chắp tay thưa hỏi rằng

Nghe Phạm âm chân thật
Bất động, trăm phước thành
Ai làm hình tượng Phật
Sẽ được phước báo gì?"

Lúc bấy giờ Thế Tôn nói kệ đáp rằng:

"Đại vương hãy lắng nghe
Phước địa rộng vô tận
Phước đức chẳng ai hơn
Do làm hình tượng Phật

Luôn sinh nhà đại phú
Tôn quý, nhiều trân bảo
Quyến thuộc thường cung kính
Do làm hình tượng Phật

Đời đời không hoạn nạn
Luôn được mở thiên nhãn
Mắt đẹp màu xanh biếc
Do làm hình tượng Phật

Cha mẹ thấy vui mừng
Thương yêu không hề chán
Đoan chính uy đức lớn
Do làm hình tượng Phật

Rực sáng thân màu vàng
Đẹp như tượng sư tử
Chúng sinh thấy hoan hỷ
Do làm hình tượng Phật

Sinh ở châu Thắng Kim
Trong dòng dõi quý tộc
Hay đại tánh Phạm Chí
Do làm hình tượng Phật

Không sinh chốn biên địa
Không mù không xấu xí
Sáu căn luôn hoàn chỉnh
Do làm hình tượng Phật

Khi sắp gần mạng chung
Biết được việc đời trước
Thấy Phật ở trước mặt
Khi chết chẳng đau đớn
Do làm hình tượng Phật

Hoặc làm đại đế vương
Hoặc Kim Chuyển Luân Vương
Chủ bốn châu thiên hạ
Do làm hình tượng Phật

Hoặc làm Năng Thiên Đế
Thần túc, có uy đức
Vua trời Tam Thập Tam
Do làm hình tượng Phật

Hoặc ra khỏi cõi dục
Làm Đại Phạm Thiên Vương
Phạm chúng đều cung kính
Do làm hình tượng Phật

Ai khắc vẽ tượng Phật
Sẽ thọ phước như thế
Trời đất còn lường được
Phước đó chẳng thể lường

Cho nên cúng dường Phật
Hương hoa, rưới nước hương
Cúng dường bậc Đại Sĩ
Lậu tận được vô vi"

Khi Phật thuyết Kinh này xong, nhà vua vô cùng hoan hỷ, liền đứng dậy, đỉnh lễ ở trước Phật với trán chạm vào chân của Phật. Bấy giờ các vị Bhikṣu, Bhikṣuṇī, Thanh Tín Nam, Thanh Tín Nữ, cùng 500 quần thần tả hữu đều sinh tâm hoan hỷ và đỉnh lễ Đức Phật. Lúc mạng chung, họ đều vãng sinh về quốc độ của Đức Phật Vô Lượng Thọ, và được làm những vị đại Bồ-tát tối tôn đệ nhất. Khi nghe lời Phật dạy, vua Xuất Ái rất vui mừng, tín thọ liễu giải, và liền đắc Quả Nhập Lưu.
Kinh Phúc Báo của Tạo Lập Hình Tượng Phật


Description: http://daitangkinh.net/a/buddha.pngAAA    

KINH ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT




KINH ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT

Triều Vua ĐẠI ĐƯỜNG: Nước VU ĐIỀN
Tam Tạng Sa Môn: ĐỀ VÂN BÁT NHÃ vâng chiếu dịch.
Việt Nam. Tỳ kheo THÍCH THIỆN THÔNG dịch ra Việt văn.
KINH ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT
QUYỂN THƯỢNG
Triều Vua ĐẠI ĐƯỜNG: Nước VU ĐIỀN
Tam Tạng Sa Môn: ĐỀ VÂN BÁT NHÃ vâng chiếu dịch.
Việt Nam. Tỳ kheo THÍCH THIỆN THÔNG dịch ra Việt văn.
Tôi nghe như vầy: Một thời Đức Phật ở tại cõi trời Đao Lợi, dưới cây Ba Lợi Chất Đa La[1], cùng với vô lượng đại Tỳ kheo chúng, vô lượng vị đại Bồ Tát câu hội, Ngài Đại Bồ Tát Di Lặc là bực đứng đầu.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở trên trời ấy an cư ba tháng thuyết pháp cho mẹ, nhiều sự lợi ích đối với chư Thiên, vô lượng chư Thiên lìa khổ, giải thoát. Vô lượng chư Thiên thấm nhuần giáo pháp, được quả phước lớn. Khi đó, trong số chư Thiên, có một Thiên tử thọ số sắp hết, năm tướng suy hiện[2]. Nhờ sức nghe pháp, sau khi mệnh chung, sanh lại cõi trời này, lìa hẳn nẻo ác.
Lúc ấy, trong Diêm Phù Đề không có Đức Phật. Ví như đêm tối, đầy những vì sao nhưng không mặt trăng, như nước không vua, như nhà không chủ, thì những cuộc vui, những trò giải trí đình chỉ tất cả. Khi đó chúng sanh dường như côi cút không chỗ nương tựa. Đối với Đức Phật, tấm lòng mọi người mang nỗi luyến mộ sanh rất buồn rầu như mất cha mẹ, như tên bắn vào tim, cùng nhau đến chỗ Đức Phật từng ở chỉ thấy vườn rừng, sân hiên vắng ngắt, đâu cũng trống trải không có Đức Phật, mọi người càng thêm buồn nhớ không nguôi.
Bấy giờ, vua Ưu Đà Diên đang ở trong cung thường mang nỗi buồn, luôn luôn xúc cảm, khát ngưỡng Đức Phật, vua chẳng màng đến chánh cung, thế nữ và các cuộc vui, vua nghĩ như vầy: “Nay ta lo buồn không lâu sẽ chết! Làm sao cho ta lúc chưa bỏ mạng, được thấy Đức Phật?” Rồi vua lại nghĩ: “Ví như người nào lòng thương yêu ai nhưng không được gặp, nếu thấy chỗ nơi người ấy đã ở, hoặc thấy kẻ nào giống hệt người ấy, may ra trừ bớt những nỗi u buồn.” Vua nghĩ ngợi thêm: “Nay ta nếu đến nơi Phật đã ở trước đây[3] mà không thấy Phật, chắc ta thương khóc, cảm xúc đến độ có thể chết mất! Ta xem trong đời không có người nào mà về sắc tướng, phước đức trí tuệ có thể ngang bằng với Đức Như Lai, làm sao cho ta gặp người như thế để ta bớt sầu?”
Khởi niệm ấy rồi, vau lại ngẫm nghĩ: “Nay ta hãy nêu tạo hình tượng Phật, lễ lạy cúng dường.” Nhưng vua lại xét: “Nếu ta tạo tượng mà không giống Phật, e khiến cho ta mắc vô lượng tội.” Rồi vua nghĩ thêm: “Giả sử những người thông minh trong đời[4] đều cùng đề cao công đức của Phật vẫn chẳng thể hết. Nếu một người nào tùy phần khen ngợi, người ấy vẫn được phước đức vô lượng. Nay ta cũng vậy, nên tùy phần mình mà tạo ra tượng.”
Nhà vua lập tức truyền lệnh cho những người thợ khéo trong nước đều phải nhóm lại. Mọi người nhóm rồi, vua bảo họ rằng:
- Người nào có thể vì ta mà tạo hình tượng Đức Phật, ta sẽ đem những châu báu trả công và thưởng người ấy.
Những tay thợ giỏi cùng tâu vua rằng:
- Nay vua ra lệnh, thật là việc khó. Tướng tốt nhiệm mầu của Đức Như Lai, trên thế gian này không ai sánh nổi. Nay đây chúng tôi làm sao có thể tạo hình tượng Phật? Giả sử Thiên thần Tỳ Thủ Yết Ma[5] mà có tạo tượng, cũng chẳng thể nào giống Đức Như Lai. Nếu như chúng tôi nhận lời đức vua tạo hình tượng Phật, may ra có thể mô phỏng ít phần về tướng xoắn tóc và bạch hào, ngoài ra những tướng tốt đẹp sáng rỡ, đầy vẻ oai đức, người nào có thể tạo nổi? Đức Phật rồi đây, sẽ từ cõi trời trở xuống nhân gian, hình tượng tạo ra nếu có sai lầm, tiếng tăm chúng tôi sẽ bị lui mất, chúng tôi trộm nghĩ không thể dám làm.
Vua Ưu Đà Diên khi đó nói lại:
- Tâm ta đã quyết, chớ có chối từ! Như kẻ sợ khát muốn uống nước sống, há vì uống chẳng thể hết, rồi không uống nước hay sao?
Những người thợ khéo nghe vua nói vậy, đều quỳ trước mặt, bạch lên vua rằng:
- Xin y theo lệnh, nhưng thỉnh đức vua cho phép chúng tôi nghĩ ngợi đêm nay, sáng mai đến làm.
Họ lại bạch thêm:
- Nay vua tạo tượng, nên dùng thuần gỗ Chiên đàn[6], sớ thịt nó mịn, thể chất rất bền, còn hình tượng Phật là ngồi hay đứng, cao thấp thế nào?
Vua đem lời ấy hỏi lại các quan. Có một vị quan thông thạo hiểu biết, ra bạch vua rằng:
- Vua nên tạo tượng Đức Như Lai ngồi. Tại sao vậy? Bởi vì, tất cả chư Phật chứng đại Bồ Đề, chuyển bánh xe Pháp, hiện thần thông lớn, hàng phục ngoại đạo, làm Phật sự lớn... Tất cả đều ngồi. Do đó nên làm hình tượng Đức Phật ngồi kiết già phu[7] trên tòa sư tử.
Ngay trong khi đó, vị trời Tỳ Thủ Yết Ma, từ xa nhìn thấy việc này, xét biết ý vua muốn tạo tượng Phật liền trong đêm ấy suy nghĩ như vầy: “Chỗ hiểu của thân ta rất là khéo lạ, trong cả thế gian không ai như ta, nếu ta vì vua tạo tượng, chắc hơi giống Phật[8].” Liền biến thân mình thành người thợ mộc cầm dụng cụ bén. Trời vừa hừng sáng, người đến đứng cạnh cửa cung nhà vua, bảo người giữ cửa bạch rõ vua rằng: “Nay tôi muốn vì vua mà tạo tượng, nghề khéo của tôi không ai sánh bằng, cúi xin nhà vua chớ sai người khác.”
Vua nghe lời ấy lòng rất vui mừng, ra lệnh mời vào, vua xem dạng cử chỉ, biết là thợ giỏi, bèn nghĩ thầm rằng: “Thế gian làm sao mà có người nầy? Phải chăng Thiên thần Tỳ Thủ Yết Ma hay đệ tử Ngài đến nơi đây chăng?” Liền đó nhà vua bèn cởi chuỗi ngọc đang đeo trên mình, tự tay cầm chuỗi, choàng lên cổ thần Tỳ Thủ Yết Ma, vua còn hứa đem các món châu báu tưởng thưởng công lao.
Lập tức nhà vua cùng quan giữ kho, đi vào trong kho soạn lựa gỗ thơm, vai tự khiêng vác[9], đem giao thợ trời và bảo thợ rằng:
- Lành thay, thưa Ngài! Hãy dùng gỗ này, vì tôi tạo tượng, sao cho giống với hình tượng Đức Phật.
Khi ấy, thợ trời liền thưa với vua:
- Nghề khéo của tôi tuy rằng đệ nhất. Nhưng về việc tạo hình tượng Đức Phật, trọn chẳng thể hết.
Ví như có người, lấy than mà vẽ mặt trời, nói rằng vẽ giống thì thật phi lý. Dẫu lấy vàng ròng để tạo tượng Phật, lại cũng như thế.
Có những ngoại đạo thường tuyên bố rằng: “Phạm Vương có thể sáng tạo thế gian[10],” nhưng cũng chẳng thể tạo hết tướng tốt nơi hình Đức Phật. Chỉ nghề của tôi trên hết trong đời, bởi vậy nay tôi vì vua mà làm. Sáng nay là ngày mùng tám trong tháng, đang lúc có sao Phất Sa và sao Tỳ Ha Đề xuất hiện. Khi Phật mới sanh, cũng có hiện ra điềm cảm ứng này. Hôm nay tốt lành, hãy nên khởi công.”
Thần Tỳ Thủ Yết Ma phát lời đó rồi, cầm búa đẽo gỗ, tiếng đẽo suốt lên đến trời Đao Lợi tới chỗ Đức Phật. Do thần lực Phật, tiếng vang đến đâu, những chúng sanh nào được nghe tiếng đục, tội cấu, phiền não đều được tiêu trừ.
Bấy giờ, Đức Như Lai bèn mỉm miệng cười nhiều cách khen ngợi công đức của vua, cho đến ở xa thọ ký cho vua Thánh Đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lúc ấy, Thiên chủ cõi trời Đao Lợi bạch Đức Phật rằng:
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Nay tại thế gian, và có người nào, từng ở kiếp xưa tạo tượng Phật chăng?
Đức Phật bảo Ngài Thiên chủ Đế Thích:
- Những ai đã từng tạo tượng Đức Phật, đều thuộc quá khứ, trước đây đã được giải thoát cả rồi. Tại thiên chúng đây còn không có ai (bị ở sót lại), huống gì nơi khác. Chỉ người con của ông Tỳ Sa Môn ở về phương Bắc, tên là Na Lý Sa Bà, thuở xưa có lần tạo tượng Bồ Tát do phước này nên sau được làm vua, tên là Tần Bà Sa La. Lại do gặp ta, nay được sanh Thiên có thế lực lớn, lìa hẳn ác đạo.
Tỳ kheo Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Già Da Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp[11] cả ba vị này kiếp xưa từng sửa nhà cũ của Phật, do nhân duyên đó vĩnh viễn giải thoát. Ông Kiều Phạm Ba Đề xưa là thân trâu, nhơn tìm cỏ nước đi quanh Tịnh xá, ăn cỏ trong những bụi tre, do thấy tôn dung của Phật phát tâm vui mừng, nhờ phước đó mà nay được giải thoát. Ông Thi Tỳ La từng cầm lọng báu cúng dường tượng Phật. Ông Nậu Lâu Đà thắp một ngọn đèn cũng để cúng dường. Ông Du Bệ Ma từng quét nhà Phật. Ông A Bà Ma Na ở trước tượng Phật thắp đèn giúp sáng, Tỳ kheo Nan Đà mến trọng tôn nghi, nên dùng nước thơm gội rửa v.v... có vô lượng vị La Hán như vậy, tất cả đều từng ở chỗ tượng Phật dâng lễ vật mọn cúng dường. Cho đến thấp nhất như ông Na Già Ba La, ở trước tòa tượng, dùng chừng chút ít son vàng vẽ thân một tượng để vì cúng dường... Do phước này nên đều lìa hẳn khổ và được giải thoát.
Đức Phật bảo tiếp:
- Này Thiên Đế Thích! Nếu có người nào, có thể ở thời giáo pháp của ta chưa diệt trở lại[12], mà tạo tượng Phật, sẽ ở nơi hội đầu tiên của Phật Di Lặc, đều được giải thoát.
Nếu chúng sanh nào, chẳng phải vì tự thân của mình, để cầu xuất ly vì muốn chứng quả Vô thượng Bồ Đề mà tạo tượng Phật, nên biết đó là cái nhân chính của ba mươi hai tướng, có thể làm cho kẻ ấy nhanh chóng thành Phật. Bấy giờ, vua Ưu Đà Diên, tự tâm suy nghĩ: “Làm sao khiến cho pho tượng ta tạo mau được hoàn thành.” Nghĩ như thế rồi nói với thợ trời:
- Ngài khá gắng lòng giúp cho công việc mau được hoàn tất, cho tôi sớm được chiêm ngưỡng, lễ lạy.
Lúc đó, vị trời Tỳ Thủ Yết Ma trổ hết tài khéo, chuyên ròng chẳng trễ, không đầy một ngày mà tạo thành tượng! Tượng ngồi kiết già, cao bảy thước mộc, mặt và tay chân đều màu vàng tía.
Vua Ưu Đà Diên thấy tượng được thành, tướng tốt trang nghiêm, tâm vua phát sanh đức tin thanh tịnh chứng Nhu thuận nhẫn[13]. Chứng được nhẫn rồi vua càng mừng rỡ, bao nhiêu nghiệp chướng và những lo buồn đều tiêu tan hết như mặt trời mọc sa mù đều hết, chỉ trừ một nghiệp mà hiện thân chịu[14], là bởi đã từng đối với Thánh nhơn khởi lời nói ác. Nhà vua khi ấy đem toàn những món ngọc quý, vật lạ ban thưởng thợ trời nhưng vị thợ trời thưa với nhà vua:
- Nay vua tạo tượng lòng tôi tùy hỷ, nguyện cùng nhà vua đồng tu phước này. Nay vua ban cho, tôi không dám nhận. Nếu cần cho nhau, xin hãy đợi đến một ngày lành khác. Vị thần nói xong liền trong đêm ấy trở lên cõi trời.
Ngay khi sau đó, các vua nước lớn, như vua A Xà Thế v.v[15]... Trước đó các vua đối với Đức Phật, đều mang một niềm khao khát ngưỡng mộ, nghe vua Ưu Đà Diên tạo tượng công phu đã thành, họ đều mừng rỡ, cùng nhau đến chỗ vua Ưu Đà Diên, vua nào cũng đem rất nhiều hoa, hương, âm nhạc cúng dường tượng Phật, lại đem các món ngọc quý trao tặng vua Ưu Đà Diên. Các vua đều nói: “Việc làm của Ngài thật là hiếm có, hay nhổ được mũi tên độc buồn rầu cho cả chúng tôi.”
Đang trong khi ấy trên trời Đao Lợi, Đức Như Lai đã vì mẹ của Ngài diễn nói kinh pháp[16], và hàng chư Thiên đều được lợi mừng. Những việc đáng làm Phật đã làm xong. Đức Phật lại bảo các Thiên chúng rằng:
- Hỡi các Thiên tử! Chư Phật Thế Tôn là thân Thường trụ. Nếu các chúng sanh, người nào đáng độ, chư Phật liền vì hiện ra giáo hóa, nói pháp cho nghe. Nếu những làm đã xong xuôi rồi, không còn người nào có thể thọ pháp giáo hóa, Như Lai khi đó liền chẳng hiện nữa. Kẻ không trí tuệ cho rằng Đức Phật diệt độ thật sự. Thân chư Như Lai chính là pháp thân, là thân thường hằng, thật chẳng diệt độ.
- Này chư Thiên tử! Pháp của chư Phật đều như vậy cả, vì giáo hóa chúng sanh mà có xuất hiện, hoặc không xuất hiện.
Kế đó Đức Phật lại dạy, nói tiếp:
- Các ngươi nên biết! Hàng chư Thiên đây, những người đáng độ ta đã độ rồi. Nay ta sắp xuống cõi Diêm Phù Đề, chư Thiên các người nếu nghĩ đến ta hãy siêng tinh tấn, chớ có buông lung.
Vì sao thế? – Cũng vì tội lỗi của sự buông lung, làm cho các người chẳng được Thánh đạo Vô thượng Bồ đề. Song bởi các người về thuở xa xưa từng trồng căn lành, nay được ở đây hưởng lạc phú Trời[17], để rồi buông lung, say đắm thú vui, chẳng tu phước hạnh. Những khoái lạc này theo sự vô thường, một phen rơi rụng, là trôi nổi mãi trong con đường ác.
- Lại nữa chư Thiên! Các người phiền não rất nặng[18], thấy ai hơn mình bèn sanh ganh tỵ, chẳng từng nghĩ rằng: Trời nào vui hơn là do tạo nhiều phước nghiệp chiêu cảm, nếu ta siêng tu thì cũng sẽ được. Nay đây các người thân sắc sáng nhuận, như mặt trời mọc vào buổi bình minh, nếu hay ôm lòng ganh ghét đố kỵ, thì sẽ đen tối như tro than tàn, còn sẽ phải đọa vào ngục tối thẳm, đến đỗi chẳng thể tự thấy bàn tay, sau còn phải làm quỷ ăn đồ nữa!
- Lại nữa chư Thiên! Hưởng những phước báo được thân nghiêm sạch, oai thế dũng mãnh, do ganh tỵ nên chịu thân nữ, mất hẳn sức lực oai hùng dõng mãnh của bực trượng phu.
- Hỡi các Thiên tử! Ta nhớ thuở xưa có vô lượng vua, vì lòng ganh tỵ của chính các người, mà phải bị hại một cách phi lý.
Này các Thiên tử! Xưa có vua A Tu La[19] tên là Ô La, tu hành khổ hạnh, giới phẩm trong sạch, chư Thiên các người sai một Thiên nữ tên Ô Bà Thi mê hoặc tâm vua, khiến mất phẩm hạnh. Vua ấy đắm nhiễm, cho nên oai đức tổn giảm, bị trời Na La Diên giết hại, và cả vô lượng chúng A Tu La cùng lúc bại diệt. Trời Na La Diên giết vua này rồi, lại tru diệt luôn binh chúng Tu La, thâu hồi Thiên nữ Ô Bà Thi trở về Thiên cung.
- Lại có một vua tên Na Ha Thọ, chư Thiên các người dùng lời gạt gẫm, giúp các Thiên chúng đánh A Tu La, phá A Tu La rồi chư Thiên các người trở hại ông ta!
- Lại nữa chư Thiên! Các người vì cớ Xá Chỉ phu nhơn[20] sanh tâm ghen ghét, Xá Chỉ xúi giục vua gây hấn, khiến cho Tiên nhơn tên A Già Bà vô cớ bị ngờ mà nổi lời nguyền độc địa.
- Lại nữa chư Thiên các người từng làm dối gạt, bảo vua Ế Trà rằng: “Chỗ của người Tiên có nhiều vàng ròng,” vua tin lời này ép Tiên đưa ra, người Tiên do đây lòng sanh căm giận, liền đó lửa mạnh đốt cháy vua Tiên.
- Xưa lại có vua tên là Đề Bà, thường bày đại hội để được cúng dường, do phước nghiệp này oai lực tự tại, bèn lên trời đây hưởng lạc thú trời, chư Thiên các người ôm lòng ganh tỵ, khiến cho Đề Bà từ trời Đao Lợi rớt xuống trần gian, bao nhiêu oai thế thảy đều tan nát, như trăng hết sáng, như sông cạn nước.
- Này các Thiên tử! Trong đời lắm người oai đức tự tại. Hoặc được thần thông, có người thành tựu bốn sức Thần túc[21]... nếu khởi lên một niệm tân ganh tỵ, công đức như thế lui mất một lúc, như Đề Bà Đạt Đa chẳng hạn, si mê dày đặc mới đối với ta mà sanh lòng ganh, lập tức mất năm thứ thần thông.
Lúc ấy, Thiên Đế bạch lên Đức Phật:
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Nay con có nghi muốn được thưa hỏi: Về sự ganh tỵ là như thế nào?
Thiên Đế hỏi tiếp:
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Nếu có chúng sanh thấy người hơn mình bèn nghĩ như vầy: “Làm sao cho ta thu hoạch những gì người kia đã được,” tâm ấy có phải là ganh tỵ chăng?
Phật đáp:
- Không phải! Đó là tâm tham, không phải ganh tỵ[22].
- Này Thiên Đế Thích! Ganh tỵ nghĩa là tự cầu danh lợi chẳng muốn người có, cái người khác có mà sanh ghét giận, ấy là ganh tỵ.
Bấy giờ, các hàng Thiên chúng, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, gối mặt chấm đất, chấp tay hướng Phật và bạch lời rằng:
- Như lời Phật dạy, chư Thiên chúng con đều sẽ vâng làm. Lạy Đức Như Lai tôn kính của đời, là Cha, là Chúa, là đấng tối tôn, là đấng Tối thắng. Đối với chúng con, khởi đại Từ Bi mà đến nơi đây khiến các Thiên chúng đều được lợi ích. Sở nguyện chúng con vẫn chưa được mãn, muốn một lần nữa thỉnh Phật một điều:
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Người dưới thế gian đối với chư Thiên chúng con, họ hay khinh lờn. Vì sao! Bởi các Đức Phật sanh trong loài người[23], và ở cõi người thành bậc Chánh giác. Giữa loài người có những A La Hán đã được chứng quả. Các vị Độc Giác có oai đức lớn, lại cũng xuất hiện giữa lòng nhân loại.
Nay Đức Như Lai nếu chẳng ở đây đi xuống cõi Diêm Phù Đề, thì người thế gian đều sẽ cho rằng: Chư Thiên chúng con chẳng biết Như Lai có oai đức lớn, đáng nhận chư Thiên đúng pháp cúng dường, và còn cho rằng: “Chúng con chẳng hay cúng dường các đức Như Lai tôn quý của đời. Mong Đức Như Lai nán lại một chút, nhận phần cúng dường nhỏ mọn của chúng con, để người thế gian biết hàng chư Thiên cúng dường Đức Phật.”
Khi ấy Đức Phật im lặng nhận lời.
Bấy giờ, Phật bảo tôn giả Đại Mục Kiền Liên:
- Người khá về trước dưới Diêm Phù Đề, thăm hỏi bốn chúng, nói lời như sau: “Tất cả những ai nhớ nghĩ đến ta, đều nên nhóm hội tại nước Tăng Già Thi, trong bảy ngày nữa sẽ được thấy ta.”
Ngài Mục Kiền Liên lạy dưới chân Phật, lạy chân Phật rồi, trong khoảng chớp mắt đã đến cõi Diêm Phù Đề[24], đem lời Phật dạy nói với bốn chúng. Vua Ưu Đà Diên cùng cả mọi người nghe Phật báo tin, thân tâm người nào cũng mừng khấp khởi, đều trừ nỗi buồn, đều được thoải mái.
Lúc ấy bốn chúng, các vị Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni, các Cận sự nam và Cận sự nữ, muốn cùng qua đến nước Tăng Già Thi, trước hết họ nhóm tại thành Vương xá[25], bàn với nhau rằng:
- Đức Phật Như Lai tôn trọng của đời, sắp sửa trở xuống cõi Diêm Phù Đề, người nào có thể cung kính lễ lạy Đức Phật trước nhất, người ấy sẽ làm thượng thủ, trong khoảng thời gian pháp chưa diệt tận.
Tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên nghe lời đó rồi trong lòng chẳng vui, e cho bên Ni được làm thượng thủ. Vì sao thế? Trong toàn Ni chúng có Ưu Ba Ban Đà và Liên Hoa Sắc. Hai Tỳ kheo Ni này có thể thông suốt Tạng pháp chư Phật, thần thông chứng được, chỉ trừ Tôn giả Đại Mục Kiền Liên ngoài ra không ai bằng hai bà. Nghĩ như thế rồi, ngài Ca Chiên Diên đủ cách quở rầy chúng Tỳ kheo Ni.
Lúc đó, Tỳ kheo Liên Hoa Sắc, bảo Ni chúng rằng:
- Người nữ chúng ta ở giữa thế tục thường được tôn quý, dẫu cho dòng dõi có hèn chăng nữa, vẫn được đàn ông cung kính nể vì, cung phụng đủ thứ. Vả lại chư Ni trong pháp của Phật, cha mẹ quyến thuộc, phần nhiều thuộc về dòng dõi vua quan. Ni giới chúng ta tinh tấn, trì giới, chẳng phạm oai nghi, đủ các đức nghiệp, vậy mà vẫn phải lễ kính Tỳ kheo mới thọ đại giới. Tôn giả Ca Chiên Diên nay lại nhiều điều quở trách thế này... Ta vì chư Ni bày các phương tiện, khiến Tỳ kheo Ni xuất sắc hơn Ngài. Nói như thế rồi cùng với bốn chúng[26], đồng đến dự nơi thành Tăng Già Thi.
Bấy giờ, vua Ba Tư Nặc, vua A Xà Thế và vua Nghiêm Xí nước Tỳ Xá Ly... Mỗi vua đều dẫn bốn đội binh hùng[27] hộ tống theo vua, có thế lực lớn. Voi ngựa được cỡi đều dùng các thứ vật quý tô điểm. Cờ xí, phan lọng, hương hoa, kỹ nhạc, oai dung nghiêm nghị, tướng trạng dường như các vị Thiên thần, họ đều qua đến thành Tăng Già Thi.
Vua Ưu Đà Diên lúc đó nghiêm chỉnh, đội ngũ bốn binh làm kẻ thị tùng. Vua cỡi voi trắng, có châu ngọc thêu thùa, đích thân vua chở tượng Phật đã tạo. Rải hoa, cầm phướng, nhạc công trỗi nhạc đi theo cúng dường, từ nước của vua hướng về thành Tăng Già Thi.
Khi ấy, Thiên thần Tỳ Thủ Yết Ma, cùng chư Thiên chúng, biết Phật sắp sửa xuống Diêm Phù Đề, bèn tạo ra ba con đường có thềm cấp quý, từ thành Tăng Già Thi đến trời Đao Lợi, thềm cấp đường giữa tạo bằng lưu ly, thềm đường hai bên đều bằng hoàng kim, chỗ đặt chân xuống lót bằng bạc trắng, xen kẽ với bảy thứ ngọc cõi trời.
Thiên chủ Đế Thích sai các Thiên sứ đến Trời Dạ Ma, trời Đâu Suất Đà, đến trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại và trời Phạm Thế[28], để báo tin rằng: “Đức Phật sắp xuống cõi Diêm Phù Đề, như muốn cúng dường xin xuống nơi đây.” Lại sai sứ xuống trời Tứ Thiên Vương, Long Vương biển lớn, vua Càn Thát Bà, vua Khẩn Na La, và chúng Dạ Xoa, bảo với họ rằng: “Nay Đức Thế Tôn sắp xuống cõi Diêm Phù Đề, các vị có thể đem những cúng phẩm đến đây cúng dường.”
Lúc đó, các Trời, Rồng, Thần v.v... nghe lời báo rồi, ai cũng vân tập về trời Đao Lợi.
Bấy giờ, đức Thế Tôn ở tại đỉnh núi Tu Di, cùng với đông đảo chư Thiên các trời[29] lúc sắp đi xuống, toàn thể chư Thiên trước sau rợp trời, oai đức lừng lẫy, ánh sáng rạng ngời như ánh trăng tròn ở giữa không gian, muôn sao giăng bủa, như vừng thái dương vừa mới xuất hiện, rực rỡ chói chang. Phật và hội chúng trạng thái lúc ấy cũng ví như vậy.
Ngay trong lúc đó, do thần lực Phật cho nên cõi Diêm Phù Đề có năm điều hiếm có:
Một là, khiến chư Thiên kia chẳng thấy những vật không sạch ở chốn nhân gian.
Hai là, khiến cho nữ giới thấy các Thiên nam mà không tưởng đến đắm nhiễm tình dục.
Ba là, khiến những người nam thấy các Thiên nữ chẳng sanh ý nhiễm.
Bốn là, khiến người trần gian từ xa nhìn rõ những món cúng dường của các Thiên chúng.
Năm là, thân của chư Thiên sáng sạch, đẹp đẽ, chẳng bị người đời nhìn thấy, do thần lực Phật, cho nên con người có thể nhìn thấy một cách rõ ràng.
Khi đó Đức Phật từ trên Thiên cung vừa đặt chân xuống thềm báu đường giữa, thì trời Phạm Vương đứng phía bên phải, tay cầm lọng trắng và trời Đế Thích phía bên trái, tay cầm phất trắng. Ngoài ra chư Thiên đều nương hư không, theo Phật đi xuống, cùng lúc đồng trỗi đủ thứ âm nhạc. Chư Thiên cầm những tràng phan, bảo cái, rải hoa cúng dường. Các vị Thiên chúng cõi trời Tịnh Cư chật cả hư không, vô lượng trăm ngàn chư Thiên, thể nữ đeo những chuỗi ngọc cùng nhau ca tụng Thánh đức của Phật. Lại có chư Thiên ở giữa hư không, rắc những thứ hương và những hoa thơm. Các vị Long thần tuốn mưa thơm nhẹ. Lúc đó không gian chẳng có mây che, tiếng sấm êm dịu làm cho người nghe tâm hồn vui đẹp. Thần Càn Thát Bà, thần Khẩn Na La, hòa tấu khúc nhạc Đề Bà Na Già vô cùng tuyệt diệu, ca ngợi những việc đời trước của Đức Như Lai.
Khi ấy, trong Diêm Phù Đề, vua chúa quan dân và bốn hộ chúng, đầy khắp giáp cả thành Tăng Già Thi, nào rắc hoa thơm, nào cầm phan lọng, thổi ốc, đánh trống, các thứ âm nhạc, hướng lên hư không tỏ lòng cúng dường. Đưa tay, chấp tay chiêm ngưỡng Đức Phật. Hoa thơm danh tiếng cõi trời, cõi người, trên dưới giao nhau rơi xuống lăng xăng lên đến đầu gối, đồ chúng ngoại đạo thấy việc trên đây, đều cùng phát tâm quy y lễ kính[30].
Khi Đức Thế Tôn chân đạp thềm báu, lần lượt đi xuống vừa được nửa chừng, thì bốn Thiên Vương ở chỗ của mình, sắp bày lễ phẩm cúng dường Đức Phật, sự cúng dường này vô cùng khéo lạ, ngàn xưa đến nay loài người chưa có.
Đức Thế Tôn nhận sự cúng dường của bốn vị Thiên Vương, rồi cùng đại chúng xuống hết các bực, đến cấp chót nhất, Đức Phật sắp sửa đặt chân xuống đất, thì Tỳ kheo Ni Liên Hoa Sắc liền biến thân mình làm Chuyển Luân Vương[31], lãnh bốn binh chủng và bảy thứ báu dẫn đi tới trước, từ không trung xuống vội tới chỗ Phật. Các vị quốc vương ai cũng tự hỏi: “Vua Chuyển luân này, từ đâu đến đây?”
Lúc ấy, Tôn giả Tu Bồ Đề đang ở trong phòng thấy Phật xuống đến, liền sửa y phục vói mình lễ kính, Tỳ kheo Ni Liên Hoa Sắc bỏ thân Luân Vương hoàn lại hình cũ, liền vội đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn.
Khi đó, Đức Phật đủ điều quở trách Tỳ kheo Ni ấy và bảo bà rằng:
- Ngươi không biết à? Ông Tu Bồ Đề lễ Ta trước rồi! Ngươi được ai bảo biến làm Luân Vương? Ngươi được dự vào hàng ngũ xuất gia, thọ giới Cụ Túc đã quá phận rồi. Trí ngươi nhỏ mọn, còn sự siểm trá lại không bờ bến, dù cho từ bi báo đáp ân đức, thì cũng chỉ như một giọt sương móc, há có thể nào ở trong pháp Ta làm Thượng thủ sao?
Ni Liên Hoa Sắc nghe Phật răn dạy, rất sanh xấu hổ, liền bạch Phật rằng:
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Nay con tự biết tội lỗi không ít. Từ nay về sau, con không dám biến hiện thần thông nữa.
Bấy giờ trong Diêm Phù Đề, các vị quốc vương các vị quan quyền và bốn hộ chúng, đều đem các món cúng phẩm mang theo, dâng cúng Đức Phật.
Vua Ưu Đà Diên đầu đội tượng Phật[32] và những vật cúng quý lạ bậc nhất đến chỗ Như Lai và dâng hiến lên. Thân Phật tướng tốt đầy vẻ đoan nghiêm thù đặc sáng ngời ở giữa chư Thiên, ví như trăng tròn ra khỏi mây che. Tượng Phật chạm khắc, so với Đức Phật, không khác gò nổng sánh núi Tu Di chẳng thể nào dụ, chỉ có xoắn tóc và tướng ngọc hào giống Phật một ít, để khiến bốn chúng biết là TƯỢNG PHẬT.
Vua Ưu Đà Diên bạch Đức Phật rằng:
- Kính lạy Thế Tôn! Đức Như Lai thuở xưa ở trong sanh tử cầu đạo Bồ Đề, thực hành vô lượng vô biên hạnh khổ khó làm khó nhẫn[33], kết quả được thân nhiệm mầu hơn hết, không ai sánh bằng. Pho tượng con tạo chẳng giống Đức Phật, con tự trộm nghĩ rất là tội lỗi.
Đức Thế Tôn bảo vua Ưu Đà Diên:
- Chẳng bị tội lỗi! Nay ông đã làm lợi ích vô lượng, không có người nào sánh bằng với ông. Nay ông ở trong giáo pháp của ta, làm người gương mẫu đầu tiên. Bởi nhân duyên này, làm cho vô lượng chúng sanh đời sau, được sanh đức tin rất là sâu sắc. Ông nay đã được vô lượng phước đức, căn lành rộng lớn.
Khi đó vua trời Đế Thích lại bảo vua Ưu Đà Diên:
- Nay vua ở đây chớ có lo sợ. Khi Đức Như Lai trước ở cõi trời và nhơn gian này, đều khen ngợi về công đức tạo tượng của vua, còn chư Thiên chúng thì rất tùy hỷ. Người có tín tâm trong đời sau này, đều nhờ nơi vua mà tạo tượng Phật để được hưởng phước, nay vua hãy nên vui vẻ tự mừng.
(HẾT QUYỂN THƯỢNG)[34]
KINH ĐẠI THỪA CÔNG ĐỨC TẠO TƯỢNG PHẬT
QUYỂN HẠ
Triều Vua ĐẠI ĐƯỜNG: Nước VU ĐIỀN
Tam Tạng Sa Môn: ĐỀ VÂN BÁT NHÃ Vâng chiếu dịch
Việt Nam. Tỳ kheo THÍCH THIỆN THÔNG Dịch ra Việt văn
Bấy giờ, Đức Phật ngồi tòa Sư Tử[35] tại nơi đạo tràng nước Tăng Già Thi. Tâm của bốn chúng người nào cũng nghĩ: “Chúng ta mong được nghe Đức Như Lai diễn nói công đức của sự tạo tượng. Nếu chúng sanh nào làm kẻ ấy được phước cỡ nào?”
Lúc đó, Ngài đại Bồ Tát Di Lặc biết ý nghĩ ấy liền từ chỗ ngồi đứng dậy sửa áo, hở vai bên mặt, quỳ thẳng chấp tay bạch lên Đức Phật:
- Kính bạch Thế Tôn! Vua Ưu Đà Diên tạo hình tượng Phật, nếu Phật ở đời hoặc Niết Bàn rồi, người có lòng tin, có thể tùy phần tạo hình tượng Phật, người ấy gặt hái công đức thế nào? Cúi mong Thế Tôn nói rộng tướng ấy.
Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc:
- Di Lặc lóng nghe và khéo nhớ lấy, sẽ vì ông nói.
- Nếu có thiện nam, người thiện nữ nào đức tin trong sạch, chuyên ròng buộc niệm về công Đức Phật, thường xét Như Lai oai đức tự tại, đầy đủ. Mười lực, Bốn Vô sở úy[36], Mười tám pháp Bất cộng, Đại từ, Đại bi, Nhứt thiết Chủng trí, ba mươi hai tướng của Đại trượng phu, Tám mươi tướng phụ. Mỗi lỗ chân lông đều có vô lượng ánh sáng khác màu, trăm ngàn ức thứ phước đức siêu thắng trang nghiêm tạo thành, vô lượng trí tuệ sáng tỏ thông suốt, vô lượng Tam muội, vô lượng thần thông... Tất cả các thứ công đức như vậy không có hạn lượng, lìa các lỗi lầm, không ai sánh bằng.
Người nào xét nghĩ rồi sanh tin ưa một cách sâu sắc, y các tướng tốt mà tạo tượng Phật, công đức người ấy rộng lớn vô biên, không thể tính đếm.
- Di Lặc! Nếu có người nào dùng những tơ sợi, thêu thùa tượng Phật[37] hoặc là nấu đúc bằng thứ vàng, bạc, đồng, sắt, chì, kẽm. Hoặc điêu khắc bằng gỗ thơm Chiên đàn, hoặc khắc bằng thứ trân châu, sò ốc, gấm vóc dệt thành, đất đỏ xi măng, thạch cao, đất sét, hoặc các thứ gỗ... Dùng những vật đó tùy phần sức mình tạo ra tượng Phật[38], cho đến rất nhỏ như ngón tay cái, có thể khiến cho người khác nhìn biết đó là Tôn tượng, phước báo người nay ta sẽ nói:
- Di Lặc! Những người như vậy ở trong sanh tử tuy còn trôi lăn, trọn chẳng sanh tại gia đình nghèo cùng, cũng chẳng sanh nhà dòng dõi thấp hèn, cô đơn hẻo lánh ở ven cõi nước. Lại cũng chẳng sanh vào nhà tà kiến, con buôn, con bán, nhà làm hàng thịt, cho đến chẳng sanh vào giòng hèn hạ, kỹ nữ bất tịnh, hoặc nhà ngoại đạo, khổ hạnh tà kiến, trừ khi vì sức thệ nguyện Từ Bi, ngoài ra chẳng sanh vào những nhà ấy.
Người này thường sanh nhà thuộc giòng tộc vua Chánh Chuyển Luân có thế lực lớn. Hoặc sanh giòng Bà La Môn tịnh hạnh, hoặc nhà giàu sang không tạo tội nặng. Sanh ở nơi nào cũng thường gặp Phật, vâng thờ cúng dường. Hoặc được làm vua hộ trì chánh pháp, đem pháp giáo hóa, chẳng làm trái đạo. Hoặc làm vua Thánh Chuyển Luân oai hùng, bảy báu thành tựu, đủ ngàn người con, bay đi trên không giáo hóa bốn châu, suốt một cuộc đời tự tại giàu vui. Hoặc làm Đế Thích, vua Trời Dạ Ma, vua trời Đâu Suất, vua trời Hóa Lạc, vua trời Tha Hóa Tự Tại, lạc thú Trời người, không gì chẳng hưởng. Phước báo như thế nối tiếp không dứt. Sanh ra nơi đâu cũng là đàn ông, không chịu thân nữ, lại chẳng chịu thân huỳnh môn hai hình là thứ hèn hạ. Thân được thọ sanh không bị xấu xí, mắt chẳng mù chột, tai chẳng điếc lác, mũi chẳng cong gãy, miệng chẳng méo lệch, môi chẳng trề xuống, cũng chẳng túm rút, răng chẳng thưa thiếu chẳng đen, chẳng vàng, lưỡi chẳng ngắn thụt, cổ chẳng bướu nhọt, thân chẳng lưng gù, da chẳng loang lỗ, tay chẳng cụt ngủn, chân chẳng lệch què, chẳng quá ốm o, chẳng quá béo mập, cũng chẳng quá dài, cũng chẳng quá ngắn... Đều không có các tướng chẳng đáng ưa.
Thân của người ấy thẳng thóm đoan trang, mặt mày đầy đặn. Tóc màu xanh biếc mềm mại, sáng sạch. Môi đỏ như son, mắt như sen xanh, tướng lưỡi rộng dài. Răng trắng bằng khít, nói ra hay khéo, khiến người nghe ai cũng vui đẹp. Khuỷu tay vừa chừng. Bàn tay bằng phẳng, lưng vế no đầy, vai ngực nở nang, tay chân dịu dàng dường như bông vải, các tướng đầy đủ không bị khuyết giảm gân sức tất mạnh, tựa hồ như trời Na La Diên[39].
- Di Lặc! Ví như có người rớt vào hầm cầu tiêu, từ đó được ra, cạo bỏ phần uế, lấy nước rửa sạch, dùng hương thoa thân, mặc áo mới sạch... Người như thế đó so với người còn ở trong hầm tiêu, chưa được ra khỏi, vậy sự nhơ sạch và sự thơm, hỏi cách nhau bao nhiêu? Kính bạch Thế Tôn việc ấy cách xa không biết mấy lần!
- Di Lặc! Nếu có người nào còn trong sanh tử, hay phát lòng tin tạo hình tượng Phật, so sánh với lúc người ấy chưa tạo, thì sự cách xa lại cũng như vậy. Nên biết người ấy đời đời sanh ra trừ sạch nghiệp chướng, các thứ kỹ thuật, không thấy mà hiểu. Tuy sanh làm người mà các giác quan được coi như cõi trời. Nếu sanh lên trời, thì trỗi vượt hơn rất nhiều Thiên chúng. Sanh ra nơi nào cũng không tật nguyền, không bị phung hủi, không bị ung thư, không bị dựa nhập bởi các quỷ mị. Không mắc những bịnh điên cuồng khô héo, vàng da sốt rét, sạn hòn, ghẻ dữ, thẹo sâu, thổ tả vô độ, ăn uống không tiêu, cựa mình nhức nhối, tê liệt nửa người...Những bệnh như vậy bốn trăm bốn chứng thảy đều không có[40].
Lại cũng chẳng bị các thứ thuốc độc, binh khí gậy gộc, cọp sói, sư tử, nước, lửa, trộm, cướp... những duyên xảy ra bất ngờ như vậy không làm tổn hại. Thường được không sợ, chẳng phạm các tội.
- Di Lặc! Nếu có chúng sanh trước tạo nghiệp ác, phải chịu đủ thứ các sự khổ não, như bị kềm kẹp, còng khóa, gông xiềng, đánh mắng, đốt châm, xẻ da nhổ tóc, treo ngược lên cao, cho đến hoặc bị mổ xẻ lòng đốt... Nếu phát lòng tin tạo hình tượng Phật, thì khổ báo ấy thảy đều chẳng thọ. Chẳng sanh những chỗ giặc giã quấy nhiễu, thành ấy sụp đổ, sao dữ biến quái, đói kém ôn dịch... Những chỗ như thế đều chẳng sanh đến, nếu nói có sanh, đó là vọng ngữ.
Lúc ấy, Ngài Đại Bồ Tát Di Lặc bạch Phật:
- Kính bạch Thế Tôn! Như Lai thường nói “Nghiệp lành, nghiệp dữ đều chẳng mất mát.[41]” Nếu có chúng sanh gây tạo nghiệp nặng, phải sanh vào nhà giòng họ hèn mọn, nghèo nàn tật nguyền, mạng sống ngắn ngủi. Sau phát lòng tin tạo hình tượng Phật, các tội báo này là còn phải chịu hay là chẳng chịu?
Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc:
- Ông nay nghe kỹ, sẽ vì ông nói. Nếu chúng sanh nào gây các tội rồi, phát tâm tạo tượng cầu xin sám hối, quyết định tự dứt, thề không phạm lại, thì tội tạo phước đều được tiêu diệt. Nay ta vì ông nêu rộng việc này.
- Di Lặc! Ví như có người đời trước sẻn lận, do duyên cớ đó chịu khổ nghèo nàn, không có của cải, thiếu thốn vật dùng, bỗng gặp Tỳ kheo trước đó nhập định, từ định vừa xuất, người kia liền đem món ăn thức uống dâng lên cúng thí, người ấy thí rồi khỏi khổ nghèo nàn, phàm có cầu gì, đều như ý muốn. Di Lặc! Nghiệp ác đời trước và chỗ mắc báo của người nghèo kia nay có còn chăng?
Ngài Di Lặc thưa:
- Kính bạch Thế Tôn! Nhờ cúng thức ăn mà nghiệp ác cũ thảy đều diệt hết, lìa hẳn nghèo nàn và được giàu có, của cải sung túc.
Đức Phật dạy rằng:
- Bồ Tát Di Lặc! Đúng như ông nói, nên biết, người kia lại cũng như vậy. Nhờ tạo tượng nên những nghiệp ác cũ hết hẳn không còn, chỗ đáng chịu báo đều chẳng chịu nữa.
- Di Lặc! Nghiệp có ba thứ[42]. Một là, hiện đời chịu báo. Hai là, đời sau chịu báo. Ba là, nhiều đời về sau mới chịu quả báo... Trong ba loại nghiệp như vừa nêu trên, mỗi nghiệp đều có Định và Bất định. Người có lòng tin tạo hình tượng Phật, chỉ có định nghiệp là trong hiện đời chịu lãnh ít phần, ngoài ra chẳng chịu những thứ nghiệp khác.
Khi ấy, Bồ Tát Di Lặc bạch rằng:
- Kính bạch Thế Tôn! Như Lai thường nói: Có năm thứ nghiệp rất là sâu nặng, quyết định đọa tại địa ngục vô gián[43]. Đó là các tội: giết cha, hại mẹ, giết A La Hán, ác tâm làm cho thân Phật ra máu, phá hòa hợp Tăng. Nếu có chúng sanh trước tạo tội này, sau sanh lòng tin đối với Đức Phật và tạo hình tượng, người này có còn đọa tại địa ngục hay chẳng bị đọa?
Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc:
- Nay ta vì ông nói một thí dụ nữa: Giả như có người, tay cầm cung mạnh ở giữa rừng cây, nhằm lên phía trên bắn những lá cây, mũi tên đi suốt không bị trở ngại. Nếu có chúng sanh gây tội nghịch kia, sau tạo tượng Phật, thành tâm sám hối, được đức tin chưa chắc chắn lắm, người ấy tưởng mình tội được nhẹ mỏng, thì dù có đọa ngục chăng nữa cũng liền ra khỏi, như mũi tên bắn đi suốt không ngừng, trường hợp người này lại cũng như vậy... Lại như Tỳ kheo, chứng Thần túc thông, từ bờ bên này qua bên kia biển quanh cả bốn châu không gì ngăn ngại. Người kia cũng thế, do tội phạm trước tạm đọa địa ngục, chẳng phải nghiệp trước có thể làm ngại.
Bồ Tát Di Lặc lại bạch hỏi tiếp:
- Kính bạch Thế Tôn! Chư Phật Như Lai là thân Pháp tánh, chẳng phải là thân thuộc về sắc tướng. Nếu lấy sắc tướng làm thân Đức Phật, thì Tỳ kheo Nan Đà và Chuyển Luân Vương lẽ ra là Phật. Bởi vì đều có đủ các tướng tốt. Như có chúng sanh hoại pháp thân Phật[44], Pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp, sau phát lòng tin và tạo tượng Phật, thì tội nặng này là cùng tiêu diệt, hay chẳng được diệt?
Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc:
- Nếu chúng sanh nào pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp, chỉ dùng miệng nói mà không phá kiến, sau sanh tin ưa tạo hình tượng Phật, thì nghiệp ác trước, chỉ nơi hiện thân bị chịu báo nhẹ, chẳng đọa đường ác, song với sống chết chưa giải thoát liền.
Bồ Tát Di Lặc lại thưa hỏi tiếp:
- Kính bạch Thế Tôn! Nếu có người nào, trộm lấy những vật trong bảo tháp Phật, trộm vật thường trụ, trộm vật bốn phương Tăng, vật hiện tiền Tăng, tự mình tiêu dùng, đem cho người dùng, coi như của mình. Thế Tôn thường nói: “Dùng vật lấy trộm từ trong tháp Phật hay vật của Tăng, tội ấy rất nặng.[45]” Vậy chúng sanh nào tạo tội ấy rồi rất tự hối trách, khởi lòng tịnh tín và tạo tượng Phật, các hạng người đó tội được diệt chăng?
Đức Phật bảo Ngài Bồ Tát Di Lặc:
- Nếu chúng sanh nào từng dùng vật ấy, sau tự tỉnh xét ôm lòng thẹn hối, y số thường bồi, thề chẳng phạm nữa, nay ta vì ông nói một ví dụ: Như có người nghèo trước mắc nhiều nợ, bỗng gặp của chìm vô số vàng ngọc, trả hết nợ xong vẫn còn dư lớn. Người tạo tội kia lại cũng như thế, đền vật nọ rồi lại tạo tượng Phật, sẽ khỏi nạn khổ, mãi được an vui.
Bấy giờ Ngài đại Bồ Tát Di Lặc lại bạch hỏi Phật:
- Kính bạch Thế Tôn! Như Phật từng dạy “Ở trong pháp Phật mà phạm khí tội[46], chẳng gọi là sống.” Nếu lại có người phạm tội đó rồi, phát tâm nhớ nghĩ công đức chư Phật và tạo hình tượng, vậy thì đối trong giáo pháp của Phật được “sống” lại chăng? Lại trong đời này, hoặc đời thứ hai, thứ ba, thứ tư được chứng Pháp chăng?
Đức Phật bảo ngài Bồ Tát Di Lặc:
- Ví như có người thân bị trói cột, tay, chân và cổ, nếu được cởi trói như chim khỏi lưới, bay đi tự do, việc kia thế nào thì người nọ cũng vậy. Nếu phát lòng tin, ngẫm nghĩ về những công đức của Phật và tạo tượng Phật, thì các nghiệp chướng đều được tiêu trừ, ở trong sanh tử mau được ra khỏi, không bị trở ngại. Di Lặc nên biết, có ba Thừa pháp[47] là Thanh Văn thừa, Bích Chi Phật thừa và Phật Đại thừa, người tạo tượng Phật tùy nơi thừa nào, khởi nguyện ưa muốn, tức nơi thừa đó, được sự giải thoát. Nếu như chỉ vì cầu thành Phật đạo, không cầu báo khác, thì dầu chướng nặng vẫn được mau diệt, tuy tại sanh tử nhưng không nạn khổ, cho đến sẽ chứng Vô thượng Bồ đề, được cõi thanh tịnh; đủ các tướng tốt, được cảm thọ mạng, lâu dài vô tận.
Bấy giờ trong hội, có những người chưa phát tâm Đại thừa, đều sanh mối nghi, nghĩ như thế này: “Đức Như Lai ta về thuở quá khứ có tạo tượng Phật hay là không tạo? Giá mà có tạo, sao tuổi thọ Ngài ở đầy những nhơ nhớp, chẳng được thanh tịnh?”
Vua Ba Tự Nặc nương oai thần Phật[48], liền từ chỗ ngồi, đứng dậy chấp tay quỳ thẳng bạch Phật:
- Kính bạch Đức Thế Tôn! Con thấy Đức Như Lai các căn tướng tốt cũng như giòng tộc đều là đệ nhứt, lòng con quyết định không có chỗ nghi. Nhưng Đức Như Lai từng có một lần, cây Khư đà la đâm thủng chân Ngài. Lại có một lần Đề Bà Đạt Đa lăn đá văng mảnh, chân Phật chảy máu. Trước đây có lúc Ngài bảo có bệnh, cho mời Kỳ Bà điều chế thuốc tốt. Lại có một lần từng nhức sau lưng. Ngài bảo Tôn giả Ma Ha Ca Diếp tụng bảy pháp Giác phần thì chỗ đau được trừ. Lại có một lần từng bị đau nhức, sai Ngài A Nan đến nhà Bà La Môn tìm xin sữa bò. Trước đây có lần tại thôn Ta La, ba tháng an cư chỉ ăn lúa ngựa. Lại từng một lần khất thực chẳng được, bát không trở về.[49]
- Kính bạch Thế Tôn! Như Thế Tôn nói: “Nếu có người nào tạo hình tượng Phật, thì bao nghiệp chướng đều bị trừ diệt, lìa những khổ não, không các tật bệnh. Vậy Đức Thế Tôn trong những kiếp xưa từng có tạo tượng hay là không tạo. Nếu trong quá khứ Ngài có tạo tượng, thì nhân duyên nào, có những việc ấy?”
Đức Phật bảo vua Ba Tư Nặc rằng:
- Lóng nghe! Lóng nghe và khéo nhớ nghĩ, sẽ vì Đại vương phân biệt giải nói. Hỡi này Đại vương Ta về kiếp xưa vì cầu Bồ đề mà đã dùng những châu ngọc quý giá, gỗ thơm Chiên đàn và việc sơn vẽ để tạo tượng Phật, nhiều hơn tất cả số chúng Trời người trong hội hiện nay. Do phước này nên dầu còn trong vòng lưu chuyển sanh tử chưa mê hoặc, nhưng được thọ thân bền như kim cương, chẳng thể tổn hư.
Lại này Đại vương! Ta nhớ quá khứ cách vô lượng kiếp, còn trong sanh tử ta tạo tượng Phật lúc đó ta còn tham, giận, si mê[50]... Vô lượng phiền não tương ưng với tâm, nhưng ta chưa từng trong khoảng một niệm, vì tội nghiệp mà bốn đại chẳng điều, hoặc là bị các quỷ thần dựa nhập, hay bị chút ít các chứng bệnh khổ, còn vật cần dùng thì không thứ nào mà chẳng đầy đủ, huống gì ngày nay ta đã chứng đạo Bồ đề, lại còn có việc “bất như ý” sao?
- Đại vương! Nếu ta thuở xưa từng tạo tượng Phật, nay có nghiệp tàn để chịu báo đó, ta làm sao thành bức “Vô úy thuyết” để rồi nói rằng “Tạo tượng quyết định có thể trừ hết các nghiệp xấu ác?”
- Đại vương! Ta thuở quá khứ cấp giúp vô lượng món ăn thức uống, tiền tài châu báu[51], làm sao đời nay khất thực chẳng được phải ăn mã mạch? Thoảng như ngày nay, việc đó có thật, thì ta làm sao trong vô lượng kinh, nhiều cách khen ngợi thí Ba la mật, nói phước bố thí trọn không hư dối?
- Đại vương! Ta là một bực nói chơn, nói thật, bậc không nói gạt. Nếu ta khi dối thì độ được ai?
- Đại vương! Từ lâu ta đã dứt hết nghiệp ác, bỏ việc khó bỏ, làm sự khó làm, thân mạng được bỏ hàng trăm ngàn ức, đã tạo vô lượng hình tượng chư Phật, hối cải vô lượng các tội nghiệp ác, há mắc những việc bị thương, bịnh khổ, ăn dùng lúa ngựa, đói khát hay sao? Nếu từng được những quả báo thù thắng, nay lại lui mất, lấy đâu khuyến tu các phước lành kia?
- Này Đại vương! Chư Phật Như Lai là thân thường hằng, là thân pháp tánh[52], vì độ chúng sanh mà hiện việc trên, chẳng phải thật vậy. Bị thương bàn chân, đau lưng, xin sữa, uống thuốc v.v... cho đến nhập đại Niết bàn, để xá lợi mình phân chia các nơi, xây tháp v.v... Đều là phương tiện hay khéo của Phật, khiến các chúng sanh thấy tướng như vậy.
Đại vương! Ta ở thế gian hiện ra những việc bệnh hoạn như trên, mục đích muốn cho chúng sanh biết rõ nghiệp báo chẳng mất, khiến họ biết sợ để dứt tội lỗi tu các hạnh lành, để rồi sau đó, biết thân thường hằng, biết thân pháp tánh, thọ mạng vô hạn, cõi nước thanh tịnh.
- Đại vương! Chư Phật Như Lai không hề hư vọng, thuần là đại bi, trí tuệ khéo léo, cho nên có thể đủ mọi cách thức thị hiện như vậy.
Khi đó vua Ba Tư Nặc nghe lời này rồi, mừng vui khấp khởi, cùng với vô lượng trăm ngàn chúng sanh, đều phát đạo tâm Vô thượng Bồ đề[53].
Bấy giờ, Ngài đại Bồ Tát Di Lặc tiếp tục hỏi Phật:
- Kính bạch Thế Tôn! Có những người nữ ý chí nhỏ hẹp, mang nhiều ghen, giận, khinh bạc, siểm dối, giận dai không bỏ, mang ơn chẳng bá. Dẫu cầu Bồ đề, nhưng không mấy người giữ chí bền bỉ, thường muốn mê hoặc tất cả mọi người, lại cũng bị người lừa gạt trở lại[54].
- Kính bạch Thế Tôn! Nếu người nữ này tạo hình tượng Phật, những nghiệp như vậy được trừ diệt chăng? Được làm một người biết ơn, báo ơn chăng? Được đủ trí tuệ, đại từ bi chăng? Với sự sống chết hay chán lìa chăng? Trừ khi nguyện lực, ngoài ra có chịu thân nữ lại chăng? Có được như bà Cù Đàm Di và Phật mẫu là bà Ma Gia phu nhân chăng?
Đức Phật đáp lời Bồ Tát Di Lặc:
- Nếu người nữ nào hay tạo tượng Phật, thì hẳn không thọ lại thân phụ nữ. Giả như thọ thân, thì đó là bậc nữ lưu tôn quý đệ nhứt hơn hết. Nhưng các người nữ có năm thứ đức, những gì người nữ tạo tượng sẽ được, hơn cả nữ giới. Năm đức là gì?
Một là: Sanh nở con cái.
Hai là: Giòng dõi tôn quý.
Ba là: Bẩm tánh trinh lương.
Bốn là: Thể chất tướng mạo đẹp đẽ cả hai.
Năm là: Dáng vẻ mỹ mãn.
- Di Lặc! Tất cả người nữ có tám nhân duyên cho nên hằng chịu thân nữ nhiều đời. Thế nào là tám?
Một là: Yêu dấu thân nữ.
Hai là: Ham đắm dục lạc của người phụ nữ.
Ba là: Miệng thường khen ngợi dung chất nữ nhơn.
Bốn là: Lòng không ngay thẳng, che dấu việc làm.
Năm là: Chán nản chồng mình.
Sáu là: Cõi lòng nặng trĩu nhớ đến người khác.
Bảy là: Biết người có ơn nhưng mình bội nghịch.
Tám là: Trang sức tà ngụy muốn người mê luyến.
Nếu hay dứt hẳn tám điều như thế, tạo hình tượng Phật, mãi đến thành Phật, thường làm đàn ông. Chịu thân nữ nữa là điều vô lý.
- Di Lặc! Có bốn thứ nhân duyên, khiến những người nam chịu thân nữ nhơn. Thế nào là bốn?[55]
Một là: Dùng tiếng người nữ khinh cười gọi Phật, chư vị Bồ Tát, các vị Thánh nhơn.
Hai là: Với người giữ giới, đem lòng chê bai, nói rằng phạm giới.
Ba là: Ưa đi nịnh hót dối gạt người khác.
Bốn là: Thấy ai hơn mình tâm sanh ganh ghét.
Nếu đàn ông nào làm bốn việc trên, sau khi chết rồi ắt chịu thân nữ, lại phải trải qua vô lượng nỗi khổ trong các ngã ác. Nếu phát lòng tin sâu dày sám hối việc làm lúc trước và tạo tượng Phật, các tội như trên đều bị tiêu diệt, rốt ráo chẳng còn chịu thân người nữ.
- Di Lặc! Có bốn thứ nhân duyên, khiến những người nam chịu thân huỳnh môn[56]. Những gì là bốn?
Một là: Tàn hại hình dáng người và súc sanh.
Hai là: Đối với Sa môn gìn giữ tịnh giới mà nổi sân hận chế giễu chê bai.
Ba là: Tình nhiều tham dục, cố tâm phạm giới.
Bốn là: Gần người phạm giới, lại khuyên người phạm.
Nếu người nam nào trước làm điều này, sau khởi lòng tin tạo hình tượng Phật, mãi đến thành Phật chẳng chịu báo đó, thường làm đàn ông các căn đầy đủ.
Di Lặc! Có bốn thứ nghiệp hay khiến đàn ông chịu thân hai hình[57], thấp hèn nhứt trong tất cả mọi người. Những gì là bốn?
Một là: Loạn dâm nhơ nhớp ở chốn tôn nghiêm.
Hai là: Với thân người nam mà đắm nhiễm bậy.
Ba là: Chính tự nơi mình làm việc dâm dục.
Bốn là: Mua bán nữ sắc cho những người khác.
Nếu chúng sanh nào làm các việc ấy, rất tự trách lỗi, hối chỗ phạm trước, khởi lòng tịnh tín tạo tượng Phật, mãi đến thành Phật, chẳng chịu thân ấy.
Di Lặc! Lại có bốn duyên khiến những người nam, tâm họ thường sanh ái dục của nữ[58], thích người với mình làm chuyện đàn ông. Thế nào là bốn?
Một là: Hoặc ngờ, hoặc giỡn báng bổ người khác.
Hai là: Ưa lối phục sức trang điểm của nữ.
Ba là: Làm chuyên dâm nhơ với người nữ bà con.
Bốn là: Thật không đức tốt, vọng nhận người lạy.
Do nhân duyên này khiến những đàn ông khởi những phiền não khác biệt như thế. Nếu như ăn năn những lỗi đã phạm, chẳng tạo lỗi mới, tâm sanh tin ưa tạo hình tượng Phật, tội kia đã diệt tâm nọ cũng dứt.
Di Lặc! Có năm thứ bỏn xẻn[59] hay phá chúng sanh. Thế nào là năm?
Một là: Xẻn tiếc thôn ấp, chỗ ỏ gần gũi. Do đây mà sanh ở chỗ đồng mông hiu quạnh.
Hai là: Xẻn tiếc nhà cửa, hiên chái để ở, sẽ làm sâu cổ, hằng ở những chỗ phân tiểu hôi nhơ.
Ba là: Xẻn tiếc sắc đẹp đoan chánh, sẽ cảm hình xấu chẳng như ý muốn.
Bốn là: Xẻn tiếc của cải sẵn có, sẽ bị nghèo nàn, áo cơm thiếu hụt.
Năm là: Xẻn tiếc giáo pháp đã biết, sẽ mắc những quả báo súc sanh, đần độn.
Nếu như ăn năn nghiệp trước của mình và tạo tượng Phật, thì sẽ lìa tâm bỏn xẻn trước đó, không thọ những báo như đã nói trên!
Di Lặc! Lại có năm duyên làm cho chúng sanh, sanh chỗ man di, ở chốn biên cương[60], hoặc sanh thời kỳ không có Phật Pháp. Thế nào là năm?
Một là: Chẳng sanh lòng tin trong sạch đối với ruộng lành Tam Bảo.
Hai là: Trái với lẽ thật, lệch với chánh lý, mà vọng đi giáo giới.
Ba là: Chẳng đúng lý thật mà dạy trao người.
Bốn là: Phá hòa hợp Tăng khiến thành hai bộ.
Năm là: Cho đến ít nhất phá hai Tỳ kheo khiến chẳng hòa hợp.
Dứt hẳn nghiệp trên và tạo tượng Phật, sẽ thường gặp Phật, thường nghe pháp yếu.
Di Lặc! Chúng sanh lại có năm thứ nhân duyên thường bị nhiều người chán ghét xua đuổi, cả đến người thân cũng không ưa gặp[61]. Thế nào là năm?
Một là: Nói lời hai lưỡi.
Hai là: Nói lời hung ác.
Ba là: Nhiều sự tranh chấp.
Bốn là: Nhiều sự giận dỗi.
Năm là: Giỏi nói bóng bẩy nhằm chê bai người.
Sau nếu phát tâm tạo hình tượng Phật, ăn năn nghiệp cũ thề không tạo lại, tội của người ấy đều được trừ diệt, được cả mọi người mến kính gần gũi. Tại sao vậy? Vì chư Phật có vô lượng vô biên phước đức thù thắng, vô lượng vô biên trí tuệ rộng lớn, vô lượng vô biên tam muội giải thoát[62], đủ những pháp tánh công đức hiếm có.
- Chư thiện nam tử! Giả sử có người đem một tam thiên đại thiên cõi nước nghiền thành bụi nhỏ, lại nghiền bụi ấy, mỗi mỗi hạt bụi chia bằng con số bụi nhỏ trong một đại thiên thế giới, những số hạt bụi được nghiền gia tăng bởi những quốc độ một cõi đại thiên nhiều biết chừng nào. Giả như có người lấy hạt bụi nghiền, dùng sức thần thông đi qua phương Đông, khoảng một sát na vượt qua cõi nước nhiều như số bụi một cõi đại thiên đã được nghiền nhỏ (bằng một phần tỷ) sát na thứ hai, sát na thứ ba lại cũng như vậy, người ấy đi mãi lâu đến số kiếp như bụi đã nghiền, rồi bao sát na trong mỗi mỗi kiếp của mỗi sát na, đều lướt qua khỏi cõi nước nhiều như số bụi được nghiền toàn cõi đại thiên, hết số cõi ấy bèn bỏ một bụi. Người ấy trở lại lấy hột bụi khác, lại qua phương Đông hơn số cõi đó bỏ một lần nữa, đến hạt thứ ba lại hơn lần trước, lần lượt như thế, cứ gập bội lên, cho đến hết sạch số bụi đã nghiền.
Phương Đông như thế, phương Nam, Tây, Bắc lại cũng như vậy. Những chỗ bốn phương người nọ đi qua, tất cả cõi nước nghiền thành bụi hết. Những hạt bụi này tất cả chúng sanh cùng nhau tính lường còn có thể biết, còn những công đức từng phần sợi lông nơi thân Như Lai, chẳng thể biết được. Tại sao vậy?
Những công đức mà chư Phật đã có, đều vô hạn lượng chẳng thể nghĩ bàn.
Các thiện nam tử! Giả sử số người nhiều như bụi nhỏ vừa được nêu trên bằng Xá Lợi Phật, bao nhiêu trí tuệ của những người đó, chẳng bằng một niệm trí của Như Lai. Vì sao thế?
Bởi vì Như Lai trong mỗi mỗi niệm, thường hay xuất hiện chánh định giải thoát, tổng trì v.v...nhiều hơn số bụi được ví dụ trên, thứ nào cũng có vô lượng công đức thù thắng vậy.
Công đức thù thắng của các Đức Phật, tất cả Thanh Văn, tất cả Duyên Giác còn chẳng thể biết danh tử để gọi! Thế nên người nào đức tin trong sạch tạo hình tượng Phật, tất cả nghiệp chướng thứ nào cũng diệt, được những công đức vô lượng vô biên, cho đến sẽ thành Vô thượng Bồ đề, nhổ hẳn khổ não cho khắp chúng sanh.
Đức Phật nói kinh này rồi, Bồ Tát Di Lặc và Thiên Đế Thích, vua Ưu Đà Diên và cả thế gian Trời, Người, Tu La, thần Càn thát bà được nghe Phật dạy, tất cả mừng rỡ, tin nhận vâng làm.
HẾT QUYỂN HẠ